Bầu trời đột nhiên có chút ánh sáng huyền ảo kì lạ, nhớ lại hoàng hôn ngày đó hẹn đi xem phim, có một cô gái, bởi vì trong lòng tràn ngập tình yêu, nhào về phía ngoài cửa sổ, nhìn về phía tòa nhà kia, cười ngọt ngào, tất cả những thứ đó có liên quan đến anh, nhìn Tuy nhiên, xét cả nhan sắc lẫn diễn xuất, do phim đã quay từ 2015 nên nam diễn viên Hương mật tựa khói sương còn vài thiếu sót. Hai nhân vật chính trong phim là Đắc Kỷ và Dương Tiễn do Vương Lệ Khôn và La Tấn thủ vai. Nhưng có vẻ như vai diễn Tử Hư của Đặng Luân mới là nguồn cảm hứng bất tận, khơi gợi nhiều cảm xúc hỗn độn trong lòng khán giả. Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo) (phần 1) Một kho quân nhu và bốn cô gái náu mình dưới tán cây rừng Trường Sơn. Bốn cô gái trẻ măng nhưng mái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác. Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc của họ. Có phải bạn đang tìm truyện ngắn rừng cười đúng không? HỌC VẼ; THỦ THUẬT; LINK VÀO BÓNG ĐÁ; FI88; Người Sót Lại Của Rừng Cười Full HD Phim Tình Cảm Việt Nam - Kho truyện ngắn hay nhất. 15/11/2020 Bởi timtruyentranh. Nội dung. Người Sót Lại Của Rừng Cười Full HD Phim Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Ðồn Ðền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn: Ðêm nằm nghe vượn hú ba lô, súng gối đầu mắt mở trừng không ngủ rừng tiếp rừng âm u gió lòn qua kẽ lá cuốn tròn trong ba lô rét rừng cơn mệt lả Chú tiểu sống với sự phụ của mình từ bé. Vị sự phụ già dạy cho đệ tử mình cách chọn những cây thuốc không chứa chất độc để có thể làm chết người. Rồi chú tiểu cũng tự mình, tìm đến những thế giới khác ngoài sự phụ. Chú tiểu và thế giới của 3 con vật 38kjKC. Người sót lại của Rừng Cười là truyện ngắn đặc sắc nằm trong tuyển tập truyện ngắn chọn lọc của Võ Thị Hảo. Câu chuyện kể về cuộc sống của Thảo - cô gái Văn khoa từ khi vào chiến trường tới lúc trở lại cuộc sống đời thường. Chiến tranh qua đi những nỗi đau mà nó để lại thì còn sách Người sót lại của Rừng CườiTác giả Võ Thị Hảo Giá bìa đồngNXB Phụ NữĐơn vị phát hành Công ty văn hóa và truyền thông Vũ TrụVề cuốn sách Người sót lại của Rừng CườiCuốn sách gồm 27 truyện ngắn của Võ Thị Hảo viết về những con người bình thường có phần khiếm khuyết, tật nguyền nhưng mang vẻ đẹp tâm hồn rực rỡ. Họ là hiện thân đau đớn nhưng đẹp đẽ của đời sống, của con người. Mỗi nhân vật, mỗi cuộc đời trong cuốn sách đều khiến người ta thương cảm, day dứt khi nghĩ ngắn đã được dựng thành phim vào 1991, trước khi được nhà xuất bản Hội nhà văn chính thức phát hành vào năm 1995. Đến nay sách không còn được tái bản hay bày bán. Tuy nhiên, bạn đọc có thể dễ dàng tìm thấy các phiên bản online và audio của truyện để thưởng cuốn sách lấy đi nước mắt và gợi nhiều trăn trởHuyền thoại về loài chim yến huyết chung tình"Anh vừa đi vừa nhìn thấy chao qua chao lại trước mắt mình người con gái đã bị cuộc đời nghiệt ngã tước đi sạch trơn đêm đêm ngồi viết thư tự gửi mình trước ngọn đèn dầu đỏ quạch. Anh chợt nghĩ đến huyền thoại về loài yến huyết ngoài biển khơi đã nhả từng hạt máu để dệt nên chiếc tổ màu hồng quý giá. Rồi khi sức tàn lực kiệt, chim yến bay vút lên không trung, lao mình vào vách đá nhọn hoắt cho ngực vỡ nát."Huyền thoại về loài chim yến huyết đầy kiêu hãnh cũng giống như câu chuyện của Thảo – người sót lại của Rừng Cười trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Võ Thị Hảo. Tôi nghĩ mãi về "di sản" của chiến tranh. Phải chăng là thắng lợi, là tự do hay chỉ là bao thân phận nhỏ nhoi bị cuộc đời nghiệt ngã tước đoạt sạch trơn? Bao gồm cả sự sống, thanh xuân, nhan sắc, sức khỏe, đồng đội, tình yêu và niềm cuộc chiến đẫm máu qua đi, nó đã để lại gì nơi dân tộc tôi? Nhất là nơi những người con gái thanh niên xung phong ra tiền tuyến năm xưa? Trong suốt bao năm tháng chiến tranh và cả sau đó, người ta vẫn thường nhắc tới nó với tâm thế ngợi ca sự anh dũng, ngợi ca chiến thắng. Phải đến ngày đổi mới, các tác giả bắt đầu viết về chiến tranh dưới khuôn mặt vẹn toàn mọi sắc diện. Trên hết là đi sâu vào khai thác những "nỗi buồn chiến tranh".Di sản của chiến tranh là lớp thanh niên phơi phới ra đi rồi trở về thân tàn ma dạiHoặc mãi nằm lại đâu đó trên dải đất này. Năm cô gái ở Rừng Cười đều còn trẻ nhưng sốt rét, nước độc và thiếu thốn làm họ lọt thỏm trong bộ quân phục, làn da tái nhợt và mái tóc rụng gần hết. Sau khi địch càn qua, Thảo tìm thấy bốn người đồng đội đã chết trong các tư thế khác nhau. Họ dành những viên đạn cuối cho chính mình để không bị làm ô nhục. Chẳng có trang báo nào ngợi ca tên họ, chỉ có nấm mồ chôn chung Thảo tự tay đắp lại sau trận sốt. Cả Hiên, người chiến sĩ từng ghé qua nhận quân trang, người đã hi sinh trong trận càn của địch cũng không được truy tặng một danh hiệu nào. Bởi anh đã ghi trong nhật kí dưới đáy ba lô những sự thật người ta muốn giấu "Sẽ không bao giờ tôi quên được những người đã nhìn thấy ở Rừng Cười. Có lẽ cảnh chết chóc còn dễ chịu hơn! Ôi! Thế là sau chín năm ở chiến trường, tôi đã nhìn thấy ở Rừng Cười cái cười méo mó man dại của chiến tranh."Ngay như Thảo, cô sinh viên Văn khoa tươi trẻ với mái tóc dài chấm gót cũng trở thành chiếc bóng vật vờ, khó kết nối lại với cuộc đời sau cuộc chiến. Rừng thiêng làm tóc cô rụng từng mảng. Cô chưa hóa điên như các chị, cũng không hi sinh nhưng cô mãi mãi không còn là cô gái năm xưa chưa ra chiến trường. Cô gầy gò và "xấu xí" đến mức người yêu không nhận ra. Và cô cũng lầm lũi không giao tiếp được với những người bạn cùng phòng. Hồn cô vướng lại mãi quân khu nơi bốn người chị nằm lại vĩnh viễn. Chiến tranh chẳng tử tế với ai bao giờ!Truyện còn phản ánh cái chết của những ước mơ hạnh phúc thầm kín mà mãnh liệtCác cô gái trẻ ở trong rừng sâu nước độc. Lâu thật lâu mới có một tốp bộ đội ghé qua. Có khi cấu véo cũng có khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của họ. Rồi tất cả các anh đều rời đi. Để lại trong lòng họ nỗi cô đơn thăm thẳm như cánh rừng Trường Sơn. Lòng họ "mơ màng vương vấn" như tơ nhện đã chăng. Khát khao bị đè nén bộc phát thành những cơn điên dại bản năng. Họ vừa cười vừa khóc, hết bứt tóc lại tự xé rách áo mình, để lộ ra tấm thân trần truồng vô thức vì căn bệnh Esteris. Khi có người xuất hiện, họ nhào lên ôm chặt như một con vượn trắng. Sự thật tàn nhẫn được nhà văn xót xa chiêm nghiệm "chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi."Thảo đã xoa dịu các chị bằng câu chuyện tình yêu lung linh của mình. Thành trong lời cô kể là một chàng trai hào hoa và chung thủy. Anh cũng đã đợi cô như hẹn ước. Khi Thảo trở về, anh vẫn đều đặn gặp cô mỗi thứ bảy, cố gắng chiều chuộng cô. Nhưng khoảng cách giữa hai người đã chỉ là im lặng. Và tình yêu, có lẽ đã chết theo tiếng "Ô, em" khi đón Thảo bước xuống tàu. Cô yêu nhưng không lụy. Cô nhớ lời dặn dò của chị Thắm "Thảo ơi! Liệu em có quá yêu người ta không đấy, không hiểu sao, chị bỗng thấy sợ cho em. Em là người duy nhất trong chúng ta đang có hạnh phúc. Mai này, có trở về, dù thế nào, em cũng không được để đàn ông người ta phải thương hại mình nghe!” Cô vô tình phát hiện Thành đã thầm yêu người khác. Cô chọn từ bỏ tình yêu để anh tìm hạnh phúc mới. Và mười sáu tuần liên tục, cô tự viết mười sáu lá thư gửi cho chính mình để ai cũng nghĩ cô là người phản bội. Để Thành có thể yên tâm mà giải thoát cho mình khỏi một người như sản của chiến tranh còn là những con người đứng bên lề thời bìnhThảo nhận thấy bản thân trở nên cứng nhắc và hiếu chiến. Cô cũng nhạy cảm hơn sau thời gian ở rừng. Không chỉ riêng Thảo, Kiên của Nỗi buồn chiến tranh, Thao của Miền cỏ hoang… cũng chìm đắm mãi trong kí ức của cuộc chiến không thoát ra được. Thảo hay mặc bộ quân phục cũ, Thao sống ở một vùng lau lách cách biệt với xã hội, Kiên chập chờn mãi giữa kí ức và hiện thực. Đời họ in dấu một chặng đường đầy máu, nước mắt, chết chóc và khói súng. Họ đã tự tay chôn xuống những người đồng đội, tự tay giết quân thù. Nếu trước đây có mục tiêu và lí tưởng dẫn đường thì bây giờ họ bơ vơ khó hòa nhập với thực tại. Bởi ở lâu chiến trường, họ đã thành người ở rìa xã chỉ có người từ trận địa trở về, ngay cả người ở hậu phương cũng khó hạnh phúc vẹn toànDù Thảo đã lừa mình dối người để Thành không dằn vặt khi đến với người khác nhưng cuối cùng chính anh lại mãi không quên được con yến huyết nhỏ của mình. Thảo may mắn vì có tình yêu của anh là điểm neo, ngày cưới là liều thuốc mạnh ngăn cô không bị Esteris. Anh đã có đêm tân hôn ở lầu trên cùng vợ mới còn Thảo ở tầng dưới chong đèn dầu xem lại những bức thư tự gửi cho mình. "Ngày ở Rừng Cười cô đã khao khát đến cháy lòng ngày ấy! Cái ngày ấy là một trong những đốm lửa sáng nhất giục giã cô cố nhoài ra khỏi cuộc sống hoang dã chốn rừng sâu."Rồi Thảo hóa điên, cuối cùng không còn gì giữ cô ở lại với ý thức. Vô thức kéo cô đi cùng tràng cười man dại giữa đêm. Sáng hôm sau khi Thành biết chuyện rồi đi tìm thì Thảo đã biến mất không còn dấu tích. Anh vẫn sống với vợ, làm việc ở Hà Nội "nhưng trong óc anh vẫn chớp chới đôi cánh bé nhỏ của loài yến huyết." Vậy là Thảo đã làm theo lời chị Thắm dặn, đã không để đàn ông thương hại mình mà làm người ta nhớ mãi bởi niềm kiêu hãnh của lòng tự tôn không gì vấy bẩn cứ sống đều đều, tẻ nhạt với vợ, với công việc. Song trong anh còn một con người khác, một tình yêu khác, một nỗi nhớ khôn nguôi về Thảo. Đến cuối cùng, anh nhủ thầm “Rừng Cười ơi! Đã no nê máu và nước mắt, lẽ nào ngươi cướp nốt của ta con chim yến nhỏ nhoi!” Anh đã dao động, đã hèn nhát, đã có sự lựa chọn của mình. Cũng phải, Thành là con người bình thường, con người không trực tiếp bước ra từ cuộc chiến. Anh làm sao hiểu hết được những ngày Thảo đã sống, những nỗi đau Thảo đã nếm. Thế nên hai người mới không thể thành chồng thành vợ. Thảo kiên định hơn anh, cũng bao dung hơn anh. Cô có thể hi sinh, có thể chịu đựng một mình. Như cách chiến tranh đã tôi rèn nên trước tình yêu không đi đến hạnh phúc, những cuộc đời không trọn vẹn cuộc đời. Chiến tranh có thể đã lùi xa nhưng di chứng của nó nhức nhối hơn cả những căn bệnh quái như có thể quên đi hết quá khứ đau thương để làm lại từ đầu, để tự do thật sự như mục đích của cuộc đấu tranh thì có lẽ cuộc sống của họ đã tốt đẹp hơn. Nhưng, chiến tranh nào phải trò đùa. "Di sản" của nó còn lưu dấu khắp thân thể và trong tâm trí những người từng kinh xin mượn đôi dòng nhật kí của nhân vật Hiên để kết lại "Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào cuộc chiến thật là khủng khiếp. Tôi sẵn sàng chết hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh ấy. Tôi rùng mình khi nghĩ rằng, người yêu tôi, em gái tôi cũng đang cười sằng sặc như thế, giữa một khu rừng mênh mông nào đó.”Hòa LươngBài viết thuộc bản quyền của tác giả Hòa Lương và blog Khi phụ nữ đọc. Chúng mình hoan nghênh bạn nhấn nút chia sẻ để lan tỏa bài viết. Hoặc bạn có thể sao chép trích dẫn nhưng hãy đảm bảo dẫn nguồn đầy đủ và đặc biệt là không bỏ tên tác giả. Bạn có thể đọc thêm Quy định Bản quyền & Cộng tác của Khi phụ nữ đọc tại đây. Cảm ơn bạn rất nhiều! Người sót lại của rừng cười Đạo diễn Trần Phương. Năm sản xuất 1991. Phim kể về cuộc sống của 6 cô gái trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, họ là đại diện cho nữ thế hệ trẻ đã xả thân và hiến dâng tuổi thanh xuân cho sự độc lập tự do của dân tộc và đất nước. 123LUAT – “Người sót lại của rừng cười” là một tác phẩm thật sự xúc động. Vết thương chiến tranh để lại dường như không thể phai dấu, nó ám ảnh ngăn trở con người về lại với cuộc sống đời thường. Đọc biết bao lần, mỗi lần đọc, cảm xúc vẫn nghẹn ngào, vẹn nguyên như 10 năm trước đây…Một kho quân nhu và bốn cô gái náu mình dưới tán cây rừng Trường Sơn. Bốn cô gái trẻ măng nhưng mái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác. Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc của đón Thảo – cô gái thứ năm về, bốn người cũ mừng rỡ khi nhìn thấy mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô. Họ cưng Thảo như vàng, nhất trí rằng không thể để rừng cướp mất mái tóc ấy của họ. Nhưng rừng mạnh tháng sau, bất chấp đủ loại lá thơm mà đồng đội đã mang về cho gội, tóc Thảo chỉ còn là một túm sợi mỏng mảnh xơ bố cô gái ôm nhau khóc cay đắng, còn Thảo thì cười “Các chị khóc làm gì. Đằng nào thì em cũng đã có người yêu. Người yêu em chung thuỷ lắm nhá. Em thế này chứ giá như có bị trọc đầu thì anh ấy vẫn yêu cơ thế là các cô gái nín khóc, tròn xoe mắt nghe Thảo kể về mối tình của cô với chàng sinh viên Văn khoa Hà Nội. Người con trai ấy được khúc xạ qua bao lớp bụi và khói, cuối cùng đến lớp sương mù lung linh huyền ảo của ký ức Thảo, hiện lên như một chàng hoàng tử hoà hiệp thuỷ bốn cô gái đều đem lòng si mê chàng trai ấy, nhưng không phải cho họ, mà là cho Thảo. Cái sự si mê người khác ấy không hy vọng cắt nghĩa nổi trong thời bình, dưới những ánh đèn màu huy hoàng, mà chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải qua nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu ở đây đã qua ba mùa mưa rầu rĩ và đang ở giữa mùa khô thứ ba bỏng rát. Kho quân nhu im lìm nép trong vòng tay ma quái của rừng sâu. Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân tạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi. Họ đến mang theo những câu bông đùa suồng sã, dăm ba cái cấu véo của những người đàn ông sống xa thế giới người đàn lâu ngày có xu hướng trở nên hoang dã. Thảng hoặc cũng có những người lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng, chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến cho các co gái càng thấm thía nỗi cô trận đã lùi về gần kho. Năm cô gái sống trong lo âu mà rừng thì cứ lầm lì trải đầy thảm lá rụng. ánh đỏ của thảm lá hắt lên cả bầu trời ánh ỏi, khiến cho đêm của họ cũng mang màu buổi trưa có ba người lính đến lĩnh quân trang. Cách kho một quãng, họ bỗng chùn chân vì vẳng tiếng cười man dại. Nghe ngóng một chốc, ba người lính bước tiếp, thoáng nhớ lại câu chuyện hoang đường về bữa tiệc của các mụ phù thuỷ trong rừng. Gần đến chòi canh kho, bỗng “soạt”rồi “huỵch” – hình như có con vượn trắng vừa nhảy từ chòi canh xuống và lẩn vào đám lá. Ba người tản ra, một người chui vào bụi đuổi theo con vượn. Anh ta đang ngơ ngác nhìn ngược nhìn xuôi thì “phốc” – một đôi tay từ đâu đã ghì chặt lấy cổ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nãy. Vừa cố sức gỡ ra, vừa ngoái lại, anh kinh hoàng thấy con vượn lúc nãy đang ôm chặt lấy anh. Nhưng anh còn bàng hoàng gấp đôi khi nhận ra rằng “con vượn trắng” ấy lạilà một người con gái hoàn toàn trần truồng tóc xoã, vẻ mặt bơ phờ và đang ngửa cổ ra sau cười khanh ta líu cả lưỡi, gọi không ra tiếng “Hiên ơi! Hiên”. Một người lính cao cao, trông già dặn hơn, chạy vội đến. Thấy anh bạn mình đang đứng như trời trồng trong tay một người con gái loã lồ thì vừa sợ vừa buồn cười. Anh đã từng nghe nói đến chứng bệnh mà các cô gái thường mắc phải trong những trường hợp tương tự. Anh bước tới, ra hiểu cho anh bạn đừng cố sức gỡ tay cô gái ra làm gì mà cứ dịu dàng vỗ về an ủi, một chốc, cô ta sẽ dịulại. Rồi anh nhảy ba bậc một lên chòi canh sàn chòi khấp khểnh, ba cô gái đang vừa cười vừa khóc, tay dứt tóc, và xé quần áo. Còn một cô khác trẻ hơn đang chạy tới chạy lui ôm đầu tuyệt vọng. Cô chưa bị lây, nhưng với cung cách này, chẳng bao lâu, cô ta sẽ cũng không thoát dạn dày với cảnh chết chóc, mà giờ đây, khi đứng trước thân thể loã lồ căng đầy sức sống của những người con gái, Hiên run bắn. Người đàn ông đã ngủ quên trong anh giờ đây vùng vằng giẫy đạp. Trong phút chốc, Hiên muốn buông trôi, muốn quên một lúc sau, Hiên mới trấn tĩnh được. Anh nhớ lại cách chữa bệnh này. Trước đây, hồi còn là một cậu bé, anh đã nghe kể lào phào bên tai. Hiên khoá chốt an toàn, cầm ngang khẩu súng, đột ngột lao tới đạp mạnh vào cửa chòi, gân cổ quát lớn-Mấy con Việt cộng kia! Kho đâu? Chỉ mau, không tao bắn vỡ sọ!Như có phép lạ, các cô gái đang cười sằng sặc bỗng im bặt, bàng hoàng rồi sực tỉnh, vơ ngay lấy súng, nhảy vội xuống đất chĩa vào Hiễn định bóp cò. May sao, người bạn đứng tronglùm cây vội la lên “Đừng bắn! Quân mình đó!”. Khi ấy các cô gái mới nhìn rõ ngôi sao trên mũ và bộ quân phục anh đang mặc. Họ từ từ bỏ súng xuống, bất chợt nhìn nhau rồi cúi xuống, thấy mình không một mảnh vải hce thân trướcmặt ba người đàn ông xa lạ. Các côkinh hoàng chạy biến vào rừng, chúi vào gốc cây khóc không ra tiếng. Cả Thảo – cô gái duy nhất không mắc bệnh cười, cũng chạy trốn. Cô thấy thương các chị đến quặn ruột. Cô buồn tủi, tiếc cho lòng trinh bạch con gái. Đến tôi, năm chị em mới dám dìu nhau về, nghe ngóng động tĩnh mãi mới lần lên người lính đã ra đi. Họ cài lại mảnh giấy xé vội vàng từ một cuốn sổ nhỏ“Kính chào các đồng chí! Chúng tôi sẽ lấy quân trang ở kho khác và gọi bác sĩ đến. Các đồng chí thân yêu! Chiến tranh mà. Mong tha lỗi! Vĩnh biệt”.Vài ngày sau, cô y ta đến, cho các cô gái uống thứ thuốc gì đó màu trăng trắng. Không thuốc thì cũng đã khỏi. Nhưng các cô gái trầm lặng hẳn và già thêm hai mươi tuổi. Cánh rừng này được mang tên “Rừng cười” từ đó. Từ đây, người ta không gọi tên kho ấy theo ký hiệu quy định nữa, mà bảo “Hômnay, tôi về kho Rừng Cười lấy quân trang”.Vài tháng sau, kho Rừng Cười nhận được lệnh chuyển. Tiếng súng của những trận đánh nghe đã gần lắm. Chưa kịp đi thì địch đã đưa cả một đại đội đến đánh chiếm chòi và năm côgái nhỏ. Lúc đó, Thảo đang bị sốt mê man – những trận sốt rét nhập môn cho người ở rừng. Bốn chị kia đã dìu Thảo đi giấu ở một hốc cây kín đáo rồi về cầm súng. Chuyện thần thoại của chiến trường không xảy ả ở đây. bốn cô gái không chống chọi nổi đã dành những viên đạn cuối cùng cho mình để tránh ô nhục. Tên tuổi họ, lẽ ra phải được in bằng chữ đậm trên trang nhất của các báo như những anh hùng. Nhưng cũng chẳng có gì lạ. Họ nằm lặng lẽ dưới nấm mồ chung do bàn tay yếu ớt của Thảo cố sức đắp sau cơn sốt Khi cô từ hốc cây tỉnh lại thì địch đã Thảo như muốn nổ tung. Cô không khóc nổi. Nhớ lại đêm trước trận đánh, cả năm chị em cùng linh cảm thấy một điều gì khác thường. Đêm oi ả, tù đọng. Mấy chị em nói chuyện bâng quơ rồi một chị đòi Thảo kể về người yêu. Và như mọi lần, Thảo vừa kể bằng chuyện thực vừa bằng hoang tưởng, vẽ lân chàng “hoàng tử”. Ba chị kia mắt sáng ngời lắng nghe như nuốt lấy từng lời. Nhưng Thắm – chị tổ trưởng, trước lúc chui vào màn đã đến vuốt tóc Thảo và bảo “thảo ơi! Liệu em có quá yêu người ta không đấy, không hiểu sao, chị bỗng thấy sợ cho em. Em là người duy nhất trong chúng ta đang có hạnh phúc. Mai này, có trở về, dù thế nào, em cũng không được để đàn ông người ta phải thương hại mình nghe!”.Lúc đó Thảo đã thoáng chút hờn giận chị. Thế mà giờ đây, Thắm và ba đồng đội của cô đã chết trong những tư thế rất khác nhau. Một lưỡi lê cay cú đã đâm nát một bên ngực của Thắm. Trước đây mỗi lúc tắm chung dưới khe, Thảo thường thích ngắm trộm ngực chị Thắm và thầm nghĩ “Ngực thần Vệ nữ cũng có lẽ chỉ đẹp đến thế là cùng” và ước ao phải chi mình có bộ ngực như thế. Giờ đây Thảo chỉ còn mỗi cách vần các đồng đội của mình xuống huyệt, rải lệ bốn thi thể con gái một thảm lá thật dày, rồi lấp đất. Cô trồng lên mộ bốn cây bằng lăng nhỏ, rồi dốc nốt chỗ nước trong bi đông xuống tưới cho cây. Mặt đấtkhô khan kêu “xèo” một tiếng, bốc hơi ngùn ngụt quẩn vào chân này, khi đang nằm điều dưỡng ở quân y viện, Thảo được biết là Hiên – người đã cứu họ trong cơn điên loạn cũng đã chết trong một trận đánh. Nghe rằng cấp trên đã nêu gương hy sinh anh dũng của anh, đang làm giấy định gửi ra Bắc truy tặng danh hiệu anh hùng thì chính trị viên đọc được những dòng này trong cuốn nhật ký nhàu nát nhét dưới túi ba lô… “Sẽ không bao giờ mình quên được những người đã nhìn thấy ở rừng Cười. Có lẽ cảnh chết chóc còn dễ chịu hơn! Ôi! Thế la sau chín năm ở chiến trường, tôi đã nhìn thấy ở Rừng Cười cái cười méo mó man dại của chiến chiến tranh lôi những người phụ nữ vào cuộc chiến thật là khủng khiếp. Tôi sẵn sàng chết hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh rùng mình khi nghĩ rằng, người yêu tôi, em gái tôi, cũng đang cười sằng sặc như thế, giữa một khu rừng mênh mông nào đó”.Vì những dòng này , người ta kết luận rằng Hiên có tư tưởng dao động, sặc mùi tiểu tư sản anh vốn là sinh viên. Hành động anh hùng của anh chỉ là ngẫu nhiên, bột phát. Chính trị viên nói “Anh ta không bị kiểm thảo là may rồi”.Đó là chuyện năm sau, Thảo- người sót lại của rừng Cười – đang học năm thứ nhất – Khoa vẫn giữ được những đường nét bẩm sinh. Nhưng đôi mắt cô như mắt của người đang đi trong một giấc mộng dài. Làn da xanh tái vì những cơn sốt rừng. Khuôn mặt chỉ sinh động lên mỗi khi côcười, mà những nụ cười thường hiếm thường so đôi vai gầy,nép mình trong góc giường tầng để viết nhật những cuộc đối thoại, cô thường lơ thường qua đêm với hai loại giấc mơ một loại giấc mơ thời thơ bé, cô thấy may mắn nhất là nhặc được cặp ba lá, khá nữa là nhặt được trứng vịt đẻ rơi. Còn trong giấc mơ tuổi thanh xuân, cô chỉ thấy tóc rụng như trút, rụng đầy khuôn ngực đã bị đâm nát của chị Thắm, và từ trong đám tóc rối ấy lấy ra hai giọt nước mắt trong veo và rắn câng như thuỷ tinh, đập mãi không vỡ. Đến đây, cô hét lên và tỉnh dậy, nắm chặt lấy hai thành giường lạnh đêm Thảo nhìn suốt lượt – mười một cô gái đang nằm ngủ. Họ cũng đang trong mơ, nhưng môi cười thanhthản, mặt ửng hồng. Trông họ đáng yêu làm sao. Giấc mơ của họ khác xa với giấc mơ của đồng đội cô hồi còn sống. Thảo thở dài, biết rằng mình thật là quỷnh, thật khó nhập yêu – chàng hoàng tử của Thảo – của năm cô gái Rừng Cười – giờ cũng đang học năm cuối, cùng trường. Họ cũng hẹn hò, đưa nhau đi chơi mỗi tối thứ bảy trên con đường trồng ngập phi lao ngập đầy ánh trăng. Thành đã giữ lời thề thốt yêu đương ngày săn sóc Thảo chu đáo, ân cần. Nhưng họ ít có chuyện để nói với nhau. Họ thường im lặng đếm bước, nghe rõ cả tiếng của những con chim ăn đêm về tổ muộn hốt hoảng vẫy đôi cánh nhỏ. Thứ bảy này Thành cũng chờ Thảo ở hành lang để đưa Thảo đi chơi và về đúng chín mỗi lần gặp nhau, cả hai đều ngượng ngập, như cảm thấy có lỗi, như không còn chuyện gì để nói. Mỗi thứ bảy, Thảo lại vừa mong vừa sợ. Cô không còn thấy lại ánh mắt long lanh vụt sáng mỗi lần Thành gặp cô như ngày thường nhăn mặt mỗi khi nhớ đến lần gặp lại đầu tiên sau mấy năm xa cách. Khi Thảo xuống tàu, vai đeo ba lô, Thành ra đón, anh ngỡ ngàng đến không thốt nổi một lời khi vừa nhìn thấy mắt anh lướt qua thân hình gầy gò trong bộ quân phục lạc lõng, qua làn mỗi nhợt nhạt, mái tóc xơ xác của cô rồi mới kêu lên “Ô! Em”. Lúc đó Thảo cảm thấy như vừa có cơn sóng lạnh buốt tràn qua ngực. Thoắt chốc, mắt cô đong đầy nước tủi hờn. THành giật mình chợt tỉnh. Để chuộc lỗi, anh tỏ ra vồn vã hơi quá đáng. Điều đó càng làm Thảo chạnh buồn. Cô nhìn sâu vào đáy mắt Thành“Anh không nghĩ rằng em sẽ như thế này, phải không?”“Anh không quan tâm đến hình thức. Chỉ cần em trở về”.“Không đúng. Em biết mình. Hôm nay, anh thật lòng mừng vì em đã trở về, nhưng ngày mai, anh sẽ thấy rằng yêu một người như em là hy sinh quá lớn”. “Đừng nói thế em. Anh đã chờ em ròng rã mấy năm!”.“Đúng thế, nhưng giơ đây em giải thoát cho anh khỏi lòng chung thủy của anh”.“Đừng ác khẩu thế cô bé. Chưa chi chúng ta đã cãi nhau rồi. Lời đầu tiên em nói với anh sau những năm chờ đợi là như thế nào?”Thành độ lượng và nắm tay Thảo. Lòng cô dịu hẳn. “Có lẽ mình trở nên cứng nhắc và hiếu chiến sau mấy năm ở chiến trường!…”Thời gian thấm thoát đã nửa năm với những tối thứ bảy đến đều đặn như hôm, Thảo có việc phải tìm đến tận lớp Thành để gặp anh, tranh thủ mấy phút nghỉ giữa giờ. Đang đứng nói chuyện với Thảo ngoài hành lang, Thành bất giác ngừng bặt, mặt tái đi rồi đỏ ửng. Thảo ngạc nhiên quay lại, nhìn thấy từ phía sau lưng mình một cô gái có đôi môi mòng mọng như nũng nịu, với làn da trắng hồng, tươi mắt, trẻ trung đang đi đến. Cô nhìn thành qua vai Thảo bằng ánh mắt say mê ngưỡng mộ hồn nhiên như trẻ thơ. Cô gái ấy học cùng lớp Thành. Cô đi vào lớp rồi, Thành mới sực nhớ ra, nối lại câu chuyện cũ. Nhưng bàn tay rất đẹp đặt lên lan can của anh thoáng run rẩy. Bực mình vì sự yếu đuối của mình, anh nắm tay đấm nhẹ vào thành lan can. Đôi mắt anh ngước nhìn trộm Thảo, vẻ có chợt hiểu. Cô nhanh chóng kết thúc câu chuyện ra về. Thảo tủi thân và thấy thương Thành. Rõ ràng là hai người kia thầm yêu nhau. Họ đẹp đôi quá và lại ở gần nhau, làm sao không yêu được!Thảo la vật cản. Thành gắn bó với cô chỉ bằng nghĩa chứ không có tình. “Vậy mà nhiều lần mình bảo anh ấy đi yêu người khác, anh ấy không chịu. Anh ấy không nỡ. Rồi đây, lấy nhau, cuộc sống sẽ hết sức tẻ nhạt…”. Thảo chợt nhớ lại lời dặn tưởng như vu vơ của Thắm đêm trước khi chị bị nghỉ học kỳ, Thảo từ quê lên, bảo Thành rằng cô xin nói chuyện nghiêm túc với anh, rằng hai người không hợp nhau, rằng cô đã có người yêu khác, mong anh đừng nghĩ tới cô nữa. Thành nghe những lời Thảo nói vẻ thờ ơ anh biết cô nói dối. Nhưng vài tháng sau, thấy cứ mỗi chiều thứ bảy, Thảo lại lên văn phòng khoa nhận về một phong thư dày cộm với dòng chữ nắn nót đề ngoài “Thương yêu gửi em Mạc Thị Thảo”.Thành dần tin là thật. Anh thầm trách người con gái phụ bạc, nhưng đồng thời thấy nhẹ nhõm như vừa cất được gánh tháng sau anh chính thức ngỏ lời với cô gái cùng lớp và sau hai tháng, họ cưới vào dịp nghỉ hè, để sắp sửa ra tân hôn của Thành, Thảo chong ngọn đèn dầu trên giường nhỏ, không dám bật điện, sợ làm mấy cô gái cùng phòng khó ngủ. Từ khi Thảo nhận được những lá thư vào thứ bảy, các cô gái đã lần lần xa lánh cô. Họ coi Thảo như một ổ tẩn mẩn giở những lá thư ra đếm… Có mười sáu lá tất cả. Cả mười sáu lá đều chưa hề bóc… Bốn tháng trôi qua. Đã bốn tháng, cô bị cả khoa chê trách dè bỉu về tội phụ tình. Mà phụ ai chứ! Nỡ phụ bạc một chàng trai đẹp và chung thủy đến thế!… Thảo tần ngần bóc lá thư đầu nghĩ đến Thành. Chắc giờ đây, lòng thành thản và ngập tràn hạnh phúc, anh đang mê đắm trong vòng tay người vợ mới cưới. Ngày ở Rừng Cười cô đã khao khát đến cháy lòng ngày ấy! Cái ngày ấy là một trong những đốm lửa sáng nhất giục giã cô cố nhoài ra khỏi cuộc sống hoang dã chốn rừng ngày ấy…! Thảo thấy ngọn đèn dầu nhoè dần, và đung đưa trước mắt cô một quả cà chua chín đỏ lịm hình trái tim chập chờn, chập chờn. Thảo đưa tay bắt, hình như nước cà chua vỡ ra, chạy dọc theo cánh tay và tận ngực. Thứ nước đỏ nhờn nhợt như máu loãng. Không hiểu sao cô thấy buồn buồn ở nách như bị ai cù, cô bật lên tiếng cười. Trong một trạng thái gần như vô thức, Thảo vung tay, mười sáu phong thư dày cộp vung vãi khắp ngủ, cô gái nằm cạnh Thảo bỗng mơ thấy ma cười khanh khách. Cô choàng tỉnh, tự giật giật tóc, vẫn nghe tiếng cười và nhìn thấy bóng đèn dầu chập chờn trên tường. Cô sợ hãi chồm dậy, thấy Thảo đang vừa cười vừa khóc. Cả mười một cô gái trong phòng tỉnh dậy. Họ cho rằng Thảo bị điên. “Esteris đó mà” một cô ra vẻ thành thạo giải thích. Họ xúm lại đưa Thảo xuống trạm xá cấp cứu. Thảo không đi “tôi không điên”. Các cô gái càng sợ. Người giữ chân kẻ giữ tay, lại có các bạn trai giúp sức, họ cõng Thảo xuống trạm xá. Ở đó, người ta ép thảo uống những viên gácđênan màu trắng. Cả ký túc xã huyên náo cả lên, đến lúc Thảo thiu thiu ngủ mới một cô gái trở về phòng. Họ định thu dọn vài thứ lặt vặt mang lên trạm xá cho Thảo thì thấy những bì thư nằm vung vãi trên giường. Họ tìm được một phong bì thư đã bóc chỉ thấy vỏn vẻn mấy dòng“Từ nay, tôi sẽ viết cho tôi, vào mỗi tối thứ năm, để ngày mai, đạp xe ra bưu điện Ngã Tư Sở bỏ thư và rồi chính tôi lại nhận được nó vào mỗi chiều thứ duyên quá! Nhưng không thế, Thành sẽ không yên tâm rời bỏ tôi. Thắm ơi! Em là người sót lại của Rừng Cười, nhưng hạnh phúc chẳng sót lại nơi em! Thắm và các đồng đội của em! Cứ yên nghỉ ở Rừng Cười! Em không làm cho vong hồn con gái của các chị phải tủi hổ. Em cũng sẽ khiến cho Thành mãi mãi vẫn là chàng hoàng từ hào hiệp của chúng ta”.Các cô gái khoa Văn vốn nhạy cảm, lờ mờ đoán ra sự việc. Họ khóc khi nhớ lại những tháng qua, họ đã xa lánh và dè bỉu chị Thảo đến thế nào. Trời vừa chợt sáng, họ đã chạy lên gác xép – phòng hạnh phúc của Thành ở tầng trên, báo cho Thành tiếng gọi cửa, Thành hơi bực mình, càu nhàu ra mở. Các cô gái không nói gì, dắt tay anh đến bên chiếc giường ngổn ngang mười sáu phong thư. Thành đọc lá thư đầu tiên, rồi lập cập bóc tất cả. Hai phần ba số thư chỉ toàn là giấy trắng. Thành choáng váng như người bước tức tốc chạy xuống trạm xá, nhưng Thảo đã đi rồi. Cửa phòng bệnh khép hở. Chiếc giường trải ga trắng in vết lõm thân hình bé nhỏ của Thảo nằm đêm qua, khi cô bị ép uống những viên thuốc an thần màu trắng, khi mọi người yên trí cô đã hóa điên, và nhìn cô bằng ánh mắt chế giễu, lúc đó anh đang tận hưởng thú vui của đêm tân hôn với một cô gái bước ra hành lang, bước xuống đường. Gió bấc từng cơn thổi lạnh. Lá báng súng vàng vung đầy trời tơ tả như đàn bướm bị bão. Anh vừa đi vừa nhìn thấy chao qua chao lại trước mắt mình người con gái đã bị cuộc đời nghiệt ngã tước đi sạch trơn đêm đêm ngồi viết thư tự gửi mình trước ngọn đèn dầu đỏ quạch. Anh chợt nghĩ đến huyền thoại về loài yến huyết ngoài biển khơi đã nhả từng hạt máu để dệt nên chiếc tổ màu hồng quý giá. Rồi khi sức tàn lực kiệt, chim yến bay vút lên không trung, lao mình vào vách đá nhọn hoắt cho ngực vỡ chân lang thang dẫn Thành về bến tàu quen thuộc. Ở đây, đã nhiều lần, bằng những đồng học bổng ít ỏi, anh mua tặng Thảo những quả mận chín đỏ đầy nước chua và chát. Thế mà Thảo đã ăn nó một cách nhiệt thành, cố không nhăn mặt, để cho anh yên lòng đến hỏi bà bán mận đang ngủ gật, tì cái mũi vào lòng bàn tay để ngủ-Bà ơi! Bà có thấy cô gái hay mặc bộ quần áo bộ độ cũ đi qua đây không?Bà bán mận chợt tỉnh. Bà véo véo mũi cho qua cơn buồn ngủ-Không, ờ mà có. Cái cô ngày xưa hay qua đây ăn mận cùng anh chứ gì? Cô ấy xuôi tàu rồi!Thành cũng xuôi tàu, Thành đi tìm Thảo tận quê, tìm khắp nơi, mà không thấy. Anh về sống với người vợ mới cưới, rồi nhận công tác ở ngay Hà Nội. Cuộc sống trôi đều đều. Nhưng trong óc anh vẫn chớp chới đôi cánh bé nhỏ của loài yến năm sau, hội trường Tổng Hợp. Những cựu sinh viên từ các miền về đây. Họ tìm về một thời lãng mạn. Trong bữa tiệc của các cựu sinh viên khoa Ngữ Văn, Thành chọn một góc ngồi cạnh cửa sổ, mặc dù trời đang đâu, sẽ có phép lạ, và Thảo của anh sẽ bất ngờ xuất hiện. Nếu phép lạ đến, cô sẽ hiện ra trước mặt anh với hình dáng ra sao đây? Với một thân hình tàn tạ bơ phờ, mắt mộng du tay cầm cành liễu? Hay bộ quần áo nâu sồng, tay chắp trước ngực “A di đà Phật”? Hay một bà chủ sang trọng, tay đầy xuyến và nhẫn? Hay một phóng viên đầy tài năng từ Sài Gòn vừa bay ra?Bữa tiệc ồn ào, huyên náo. Gió qua lại như tiếng chân chạy. Thành vẫn đăm đắm ngóng ra cổng trường. “Rừng Cười ơi! Đã no nê máu và nước mắt, lẽ nào ngươi cướp nốt của ta con chim yến nhỏ nhoi!”. NGƯỜI SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI Phim Chiến Tranh Việt Nam Đặc Sắc Người Sót Lại Của Rừng Cười là bộ phim điện ảnh được dựng lại theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Võ Thị Hảo. Bộ phim mở ra trước mắt người đọc bối cảnh “một kho quân nhu và bốn cô gái náu mình mình tán cây rừng Trường Sơn”. Trong tác phẩm “Người sót lại của rừng cười”, tác giả Võ Thị Hảo đã đặt số phận con người vào hoàn cảnh của chiến tranh. Lúc này, quyền sống con người đối lập với sức tàn phá ghê ghớm của bom đạn, khói lửa. Chính chiến tranh phá tan tinh thần của Thảo, lấy đi sinh mạng của Hiên, của bốn cô thanh niên nơi “rừng cười” và hàng triệu người dân Việt Nam. Người trở về từ chiến tranh cũng không có được hạnh phúc trọn vẹn. Trong thời chiến họ là người biết và dám hy sinh niềm hạnh phúc của mình, tham gia vào cuộc kháng chiến của toàn dân. Thời bình họ đã hy sinh chính tình yêu của mình để người khác được hạnh phúc. Những hành động của Thảo chứa đựng nhiều ý nghĩa về lòng nhân ái, đức hy sinh và đó cũng là hành động của hầu hết nữ chiến sĩ bước ra từ chiến tranh. Thông qua “Người sót lại của rừng cười”, tác giả đã lên án chiến tranh, khẳng định quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. Cũng như tỏ lòng thông cảm với những ai đã từng nếm mùi khổ cực và sự đay nghiến của chiến tranh. Cảm ơn quý vị và các bạn, đã bỏ chút thời gian quý báu để xem phim, chúc quý vị và các bạn có những ơi phút giây thú vị khi xem phim. 👉 xin vui lòng nhấn subscribe đăng ký để đón xem những bộ phim mới nhất của mình nhé, và hãy like, comment bình luận 👇 bên dưới để mình biết ý kiến của các bạn nhé, để ủng hộ mình làm những thước phim tiếp theo hay và hấp dẫn gửi tới quý vị và các bạn, mình xin cảm ơn Nguồn Xem thêm các phim khác tại phim Tác giả truyệnVõ Thị Hảo Phát thanh viênPhương HằngViệt Hùng TỪ KHÓAchiến tranhcon gáiGiàn thiêukháng chiến chống MỹNgười sót lại của rừng cườiTrường SơnVõ Thị Hảo Chiến tranh Việt Nam là đề tài thu hút nhiều thế hệ cầm bút, dù khi cuộc chiến đã đi qua nhiều năm. Người sót lại của rừng cười là truyện ngắn lấy bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cả bốn cô gái canh gác kho quân nhu giữa đại ngàn Trường Sơn đều mắc căn bệnh mà khoa học gọi là Histeria, một thứ bệnh rối loạn thần kinh mất cân bằng tâm lý. Chỉ có Thảo, nhân vật nữ chính trong truyện là người duy nhất không mắc bệnh. Cô chỉ biết buồn tủi, xót thương cho các chị của mình. Và rồi cả 4 người con gái trong trắng ấy đều ngã xuống sau một trận đánh mà chưa một lần kịp yêu ai. Người duy nhất sót lại của rừng cười được trở về thành phố và vào học năm thứ nhất khoa Văn. Nhưng Thảo đã không còn vẻ đẹp căng tràn sức sống với mái tóc mượt dài chấm gót như ngày nào, thay vào đó là thân hình gày gò với mái tóc xơ xác. Thành, người yêu của Thảo ngày càng trở nên xa cách với cô dù đã chờ đợi ngày Thảo trở về và ra đón cô tại ga tàu. Thảo muốn giải phóng cho Thành nên đã nghĩ ra cách hàng ngày tự gửi thư cho mình để Thành nghĩ rằng Thảo đã có người yêu mới. Và rồi sự kiện Thành kết hôn với người con gái khác đã đẩy bi kịch của Thảo lên đỉnh điểm. Cô vượt qua được những tháng ngày gian khổ ác liệt ở Trường Sơn nhưng rồi lại mắc căn bệnh của chính những đồng đội ngày xưa ngay giữa thời bình. Chiến tranh tàn phá và lấy đi quá nhiều điều của con người, ngay cả một ước mơ bình dị nhỏ nhoi cũng không có được. Truyện ngắn của Võ Thị Hảo đặt ra một cách nhức nhối về số phận của những người phụ nữ trong chiến tranh và sau chiến tranh, mỗi thời là một bi kịch riêng. Thiên truyện ngắn đầy xúc động thêm một lần nữa là lời tố cáo đanh thép những tội ác của chiến tranh, đồng thời nhắc nhở mỗi con người đang sống phải biết trân trọng và yêu thương nhiều hơn những người phụ nữ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Không chỉ thế, họ còn tiếp tục những hy sinh lặng lẽ ngay trong cả thời bình. Thu Gọn Nội Dung Võ Thị Hảo là một trong số các nhà văn nữ Việt Nam giành nhiều trang văn của mình cho người phụ nữ. Hôm nay, nhân đọc Người sót lại của rừng cười, chúng ta cùng nhìn lại một chút về nhân vật Thảo trong truyện. Cô là “người sót lại của rừng cười”, trở về với cuộc sống thời bình, nhưng cái kết của truyện lại là một sự ra đi không rõ ràng của nhân vật. Có điều gì bất ổn ư? Với bài viết nhỏ này, người viết xin được rõ ràng bày tỏ ý kiến của mình như một lời khẳng định Ra đi, “người sót lại của rừng cười” ấy đã tự định nghĩa được chính mình. Và cho những đồng đội “rừng cười” hôm nao! Câu chuyện về những cô gái ở rừng cười ấy đã ám ảnh, ám ảnh đến ghê người chúng ta. Họ cứ như những bóng ma vật vờ trong tiếng cười của chính mình, tự chơi đùa với chính mình. Và trở nên điên dại. Điên dại vì những khao khát bản năng của người phụ nữ, vì thèm, vì thèm! Nhưng chao ôi, chưa bao giờ họ trở nên điên dại với nhiệm vụ. Người đọc không khỏi khắc khoải mãi hình ảnh “Như có phép lạ, các cô gái đang cười sằng sặc bỗng im bắt, bàng hoàng rồi sực tỉnh, vơ ngay lấy súng, nhảy vội xuống đất chĩa vào Hiên định bóp cò”. Hình ảnh ấy có phải chỉ được giải thích bằng “phép lạ”? Có lẽ chỉ khoảng khắc nhỏ ấy thôi, Võ Thị Hảo đã cho hiên nguyên hình cái tinh thần không thể giải thích của những nữ chiến sĩ rừng cười. Họ ở lại cái nơi kinh hoàng giết mòn con người ấy, một nơi chỉ có thứ an ủi duy nhất là hình ảnh về Thành-người yêu cuả Thảo, chàng hoàng tử chung của mấy chị em, nhờ nó nuôi dưỡng thứ duy nhất không chết mòn, trái tim người đang sống vì cuộc chiến tranh đang diễn ra. Quá khứ đã lùi đi nhưng chưa bao giờ là xa xôi. Có lẽ bởi con người ta có hoài niệm. Vì thế mà ta có thể sống ở thực tại. Nhưng nhân vật Thảo đã sống ở cái thời thực tại ra sao? Ám ảnh như tiếng cười khanh khách của rừng cười duy nhất còn sót lại, của những gì đớn đau nhất. Bóng ma của thời chiến bước về với con người thời bình. Thảo tìm về với con đường được làm người phụ nữ, được sống đúng những bản năng của mình. Tưởng như được thỏa những ước mơ về một hạnh phúc đời thường. Nhưng, một cô sinh viên năm nhất nép mình bên giường tầng với những trang nhật ký đầy ám ảnh; nhưng, một con người với hai loại giấc mơ, hoặc là tuổi thơ hoặc là chiến tranh; còn thứ cô cần nhất để bắt nhịp cô với cuộc sống hiện tại thì nó ở đâu? Cô trở lại với chàng hoàng tử của mình, hình ảnh đã giúp cô và các bạn của cô bám víu lấy để sống tiếp, hướng về. Nhưng, là một tình yêu đều đặn vào các tối thứ bảy, đầy những cảm giác bất ổn, mỏng manh được gợi lên qua những lo sợ, những im lặng của Thảo và Thành. Tất cả là những mảnh vụn duy nhất của riêng cô, chẳng ai hiểu, chẳng ai chạm tới cả. Cô đã sống trọn với những nỗi đau, với ký ức, với tình yêu mà mình có. Để….người ta yên tâm rằng Thảo đã điên, người ta yên tâm dè bửu, chê trách, yên tâm coi Thảo là một kẻ phụ tình….yên tâm bỏ mặc con người cuối cùng, sót lại của rừng cười. Thảo có “yên tâm” trở thành kẻ cô đơn như thế? “Yên tâm” trở thành kẻ lạc loài giữa cộng đồng người của mình? Và cô rơi về chốn nào, để giữ cho được hình ảnh của một chàng hoàng tử hào hiệp tất cả rừng cười đều tôn sùng về Thành. Và cô rơi về chốn nào? “xuôi tàu”, có chuyến tàu nào cho cô về lại rừng cười? Hay có tấm vé nào khác cho cô lại bước vào cuộc đời mới. Có thể có nhiều cách giải thích cho sự ra đi của Thảo nhưng người viết thì cho rằng, phải, cô trở về chứ không phải ra đi. Tinh thần của rừng cười, những con người của rừng cười vẫn ở lại nơi đây với những giá trị đủ đầy chưa bao giờ bị mờ đi. Cho tới tận cùng Thảo vẫn những lời nói của chị Thắm. “Thảo ơi! Liệu em có quá yêu người ta không đấy, không hiểu sao, chị bỗng thấy sợ cho em. Em là người duy nhất trong chúng ta đang có hạnh phúc. Mai này, có trở về, dù thế nào, em cũng không được để đàn ông người ta phải thương hại mình nghe!”. Đây chính là điều người viết muốn khẳng định. “Người sót lại của rừng cười”, thứ khiến cô đã sống được ở rừng cười, tình yêu, chính nó cũng đã cho cô con đường bước về với cuộc sống bình thường. Cô đã giành trọn cho nó. Nhưng cũng chính khi ấy, cô đau đớn mà nhận ra rằng, nó không như cô đã nghĩ và đã tin tưởng. Phải, cô ra đi, chẳng có gì là bất ổn cả. Nó phù hợp với tâm lý của cô, phù hợp với tinh thần của những người chiến sĩ dũng cảm và mạnh mẽ nhất của rừng cười. Cô yếu mềm ư, cô chạy trốn ư? Không, là cô lựa chọn, lựa chọn sống hết lòng với rừng cười, với những con người ở rừng cười. Họ đáng được trân trọng. Tôi cho rằng ấy là hành động quyết liệt của Thảo. Và là tiếng nói vững vàng nhất của Võ Thị Hảo. Cô ra đi vì chính mình, và vì những đồng đội của cô, giữ cao nhất lòng tự trọng của mình, giữ cao nhất vị trí của đồng đội mình. Không có chỗ cho sự thương hại, không có chỗ cho những phụ thuộc, cô đã đặt viên gạch cuối cùng quan trọng cho những người như mình. Họ, đã có thể tự định nghĩa được chính mình! Đây chỉ là một góc nhỏ trong tác phẩm, nhưng đã cho ta thấy được ý thức nữ quyền rất rõ. Võ Thị Hảo đã hướng ngòi bút của mình về người phụ nữ bằng một giọng văn đầy thấu hiểu và cảm thông mang đậm đặc trưng nữ quyền phân tâm học và đòi hỏi chúng ta cùng nhìn nhận. Một ngách tối nhỏ thôi nhưng cần lắm giữa đời này. f Share Tweet

người sót lại của rừng cười phim