Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (Chỉ thi 05), Hội Nông dân Nghệ An đã triển khai thực hiện một cách tích cực, thường xuyên, đồng bộ, với nhiều cách làm mới. 3. Các văn bản pháp luật khác có liên quan. THẨM QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ. Như đã đề cập ngay phần đầu của bài viết, pháp luật hiện hành đang quy định 3 cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc ban hành quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư gồm: 1. Kỹ Thuật Liên Tưởng 1- Luật tương tự: các sự vật tương tự về tính chất hoặc đặc trưng có thể hình thành liên tưởng. Như sắt thép làm ta liên tưởng đến sự cứng rắn, truyện “Tấm Cám” làm ta liên tưởng đến tình cảm gia đình… 2- Luật tương phản: Các sự Vậy các bước để bắt đầu ghi nhớ từ này bằng kỹ thuật liên tưởng như sau: Chọn qua mục “Hình ảnh”, chọn ra 1 hình ảnh dễ nhớ nhất, ấn tượng nhất với bản thân. Luyện tập liên tưởng: mở hình ảnh đó lên, vừa nhìn từ khoá, vừa nhìn hình ảnh. Dừng lại Cách hiện Unikey trên màn hình máy tính – Desktop. Đối với Win XP, Win 7; Đối với Win 8, 10; Cách hiện biểu tượng Unikey trên thanh Taskbar. Cách 1. Có thể bạn đã tắt nhầm phần mềm Unikey; Cách 2. Biểu tượng Unikey có thể đang nằm trong mục Hidden icons của thanh Taksbar. Cách 3. Năm 2020, với chuyên đề “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, một lần nữa tầm quan trọng của đại đoàn kết được khắc sâu và ghi nhớ. Mỗi cán C1lySz. Hiểu nôm na là nhìn/nghe A là nghĩ ngay đến B. Ví dụ chia ra theo 2 quan năng cơ bản mà mọi người sử dụng thường xuyên nhất là NGHE và NHÌN. NGHE khi nghe ai đó la lớn lên “chuối !!!”, lập tức trong đầu hiện ra hình ảnh 1 quả chuối hoặc tuỳ mức độ trong sáng của não bộ mà mỗi người có thể liên tưởng ra những hình ảnh “lạ lẫm” nào đó khác NHÌN khi đọc thấy một từ/câu/đoạn nào đó trong trang sách có nội dung “quyến rũ”, lập tức trong đầu hiện ra hình ảnh 1 cô nàng nóng bỏng với số đo 3 vòng chuẩn như Ngọc Trinh cũng tuỳ vào trí hiểu biết của mỗi người mà hình ảnh hiện ra sẽ khác nhau Lợi ích cực kỳ to lớn Là một trong những phương pháp ghi nhớ tối ưu nhất thế giới hiện nay. Do bộ não con người ghi nhớ thông tin dưới dạng hình ảnh tốt hơn hết. Có thể chứng minh bằng cách thử đưa ra 1 list danh sách các thứ cần mua bằng CHỮ, và 1 list khác có kèm HÌNH ẢNH minh hoạ, sẽ thấy list có sử dụng hình ảnh sẽ dễ nhớ hơn. Khả năng liên tưởng là không giới hạn. Mỗi người đều có thể sử dụng trí tưởng tượng để liên tưởng ra tất tần tật các sự vật, sự việc trong cuộc sống. 🧩 Đố vui thông minh Thử tưởng tượng một người đang ở giữa dòng sông, xung quanh vây bởi hàng trăm con cá sấu, đang hung hăng lao tới, dự là sẽ chén sạch người này. Hỏi làm sao để người đó có thể thoát ra khỏi vòng vây an toàn? đáp án nằm ở cuối bài, nếu lĩnh hội được nội dung của bài viết, sẽ hiểu ngụ ý vì sao tác giả muốn đố câu này Kỹ thuật liên tưởng Dựa trên kinh nghiệm sống cá nhân Điều này sẽ tuỳ thuộc vào lượng kiến thức đã được tích luỹ trong cuộc sống vật dụng, hình ảnh, biểu tượng, . Khi nghe đề cập đến một vấn đề, sự kiện, sự vật bất kỳ, hãy suy nghĩ đến một hình ảnh minh hoạ liên quan đến sự vật đó hình càng đơn giản càng tốt, nên chọn hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu. Ví dụ khi nghe từ khoá “anh hùng”, theo kinh nghiệm và vốn kiến thức của tác giả, hình ảnh một chàng trai lực lưỡng cơ bắp, soái ca các kiểu sẽ hiện ra đầu tiên trong đầu. Từ đó giúp LIÊN TƯỞNG đến từ khoá “anh hùng” Dùng tool “Google Search” Khi gặp phải một từ khoá mà mãi không nghĩ ra được một hình ảnh quen thuộc nào minh hoạ cho từ khoá đó, thì phải làm sao? Rất đơn gỉản, sử dụng bộ tìm kiếm mạnh mẽ nhất đó là Google Truy cập vào Nhập từ khoá đang muốn nhớ theo cú pháp icon Ví dụ “dog icon”, “successfull icon”, “serious icon”, . Chọn ra một hình ảnh dễ nhớ nhất, ấn tượng nhất đối với bản thân. Ghi nhớ hình ảnh đó. Lặp lại luyện tập bằng cách nhìn vào từ khoá, sau đó “nhớ lại” hình ảnh vừa chọn trước đó. Luyện đến khi chỉ cần nhìn chữ là trong đầu tự hiện ra hình. Chỉ cần nhìn CHỮ là trong đầu tự hiện ra HÌNH – Matianda Ứng dụng Ghi nhớ ý nghĩa từ vựng tiếng Anh Áp dụng việc liên tưởng vào học tiếng Anh là một trong những cách hiệu quả để ghi nhớ nghĩa của từ nhanh chóng và lâu dài. Giả sử khi bắt gặp một từ khoá mới, ví dụ “Algorithm”, đây là một từ khá là khó nhớ và khó hình dung. Vậy các bước để bắt đầu ghi nhớ từ này bằng kỹ thuật liên tưởng như sau Tra từ điển để biết ý nghĩa của từ Truy cập google, tìm theo cú pháp icon => “algorithm icon” Chọn qua mục “Hình ảnh”, chọn ra 1 hình ảnh dễ nhớ nhất, ấn tượng nhất với bản thân Luyện tập liên tưởng mở hình ảnh đó lên, vừa nhìn từ khoá, vừa nhìn hình ảnh. Dừng lại, nhìn vào từ khoá, và nhắm mắt nhớ về hình ảnh. Cứ lặp lại vài lần cho đến khi tạo thành PHẢN XẠ liên tưởng. “Ngôn ngữ cảm xúc hình tượng” trong giao tiếp Trong giao tiếp, điều khó nhất không phải là nghĩ ra cái để nói, mà là làm sao nói để đối phương hiểu và cảm nhận được nội dung truyền đạt. Nói làm sao để cho đối phương “cảm nhận” được nội dung truyền đạt Nghĩa là làm sao để người khác vừa nghe mình nói vừa hình dung ra được viễn cảnh của nội dung truyền đạt. Ví dụ sau đây sẽ giúp hiểu rõ hơn thế nào là “ngôn ngữ cảm xúc hình tượng” Tom và Jerry đã lấy nhau được hơn 3 năm. Thời gian gần đây, Jerry thấy Tom có vẻ như không còn dành sự quan tâm đến vợ con nhiều như trước, nên cô hay khó chịu, cáu gắt với chồng. Về phần Tom thì anh do áp lực công việc, cuộc sống, nên tinh thần không còn thoải mái, dẫn đến lơ đễnh việc chăm nom gia đình. Dù cho Tom có giải thích, liệt kê những khó khăn trong công việc như nào là hồ sơ sổ sách cần giải quyết nhiều, các giấy tờ thư từ của khách hàng cần được giải quyết bla bla… thì Jerry cũng vẫn không sao cảm được khó khăn của chồng, và cứ cho là Tom chưa hiểu mình, Tom cũng không biết phải giải thích thế nào thì Jerry mới “thấu hiểu” cảm giác của anh lúc này. Và Tom quyết định đến gặp một chuyên gia tâm lý, lúc này anh mới tiếp nhận được một kỹ thuật gọi là “ngôn ngữ cảm xúc hình tượng” để áp dụng vào việc nói làm sao cho Jerry hiểu và cảm được vấn đề của anh. Sau khi về nhà và chuẩn bị sẵn nội dung trình bày, Tom mới gọi Jerry lại và nói “Jerry à, em có nhớ con cún của bác Tony mà em rất yêu quý không? Mỗi ngày nó đều chạy ra ngoài quán hủ tiếu của bà Diana để kiếm miếng xương miếng thịt, và cũng thường hay bị những người khách ở đó xua đuổi, bị những con cún khác giành giật miếng mồi, bị đám trẻ nhỏ quậy phá gần đó đuổi đánh … nó cố gắng để bảo vệ miếng mồi để mang về nhà cho lũ cún con ăn. Khi nó chạy về nhà, điều mà nó mong muốn nhất là được lại gần chủ, quẩy đuôi mừng, được âu yếm vuốt ve, và nằm bên lũ con của nó, như vậy thì những điều ngoài kia dù có thế nào thì nó vẫn sẽ chống chọi được, vì nó luôn biết ở đâu đó vẫn có người chủ hằng yêu mến, vuốt ve nó mỗi khi nó trở về. Và em thử nghĩ xem, nếu như khi nó về, mà chủ nó không những lớn tiếng la mắng, chửi rủa và cũng xua đuổi nó như những người ngoài kia, thì nó sẽ như thế nào? Và Jerry à, đó cũng là cảm giác mà anh đang phải trải qua trong lúc này”. Trong câu chuyện về chú cún mà Tom kể với Jerry, anh đã khéo léo chọn ra hình ảnh chú cún mà Jerry rất yêu quý, điều này đã làm cô dễ liên tưởng, hồi nhớ lại những ký ức đẹp về chú cún thân thương. Và anh cũng đưa ra những hình ảnh như quán hủ tiếu của bà Diana, ông chủ Tony, … Những hình ảnh đó đã gợi cho Jerry liên tưởng ra được hình ảnh cụ thể dựa trên kinh nghiệm sống ở quá khứ của cô. Xuyên suốt câu chuyện, cô vừa nghe Tom nói, vừa tái hiện lại những “thước phim” đó trong đầu mình. Và hiệu quả từ việc này đó là Jerry đã hiểu và cảm nhận được cảm giác của chồng cô. Câu chuyện trên tác giả đã lấy ý tưởng dựa trên một câu chuyện khác được đề cập trong cuốn “Những bước đơn giản đến ước mơ – Steven Scott” để minh hoạ cho việc ứng dụng Ngôn ngữ cảm xúc hình tượng trong giao tiếp để đối phương hiểu và cảm nhận được nội dung truyền đạt. Khả năng liên tưởng, tưởng tượng của con người là vô hạn, và ai cũng đều có thể luyện tập được từ ngay lúc này. Hãy biết rèn luyện khả năng này, không chỉ gom gọn trong việc học từ vựng tiếng Anh, trong giao tiếp, mà còn để bộ não trở nên sáng tạo và luôn tươi mới hơn mỗi ngày. Đáp án đố vui đơn giản là chỉ việc tưởng tượng người đó bỗng mọc ra thêm đôi cánh thiên sứ sau lưng, và đập cánh bay vút lên trời, thoát khỏi vòng vây của lũ cá sấu có đến 1001 kiểu thoát chết khác nhau, tuỳ kịch bản tưởng tượng của mỗi người mà ra Nguồn tham khảo “Trí tuệ Do Thái” – Eran Katz “Sketch Note” technique “Sử dụng trí nhớ của bạn” – Tony Buzan “Những bước đơn giản đến ước mơ” – Steven Scott Phép liên tưởng là gì? Định nghĩa của hiệp hội Liên tưởng là việc dùng các từ chỉ sự vật có thể liên tưởng theo một hướng nhất định, xuất phát từ các từ gốc, nhằm tạo ra sự liên kết giữa các phần chứa chúng trong văn bản. Vì là sử dụng liên từ nên thứ tự, vị trí của các từ đó không cần tuân theo một ngữ pháp nhất định. Có thể trước, sau, dưới dạng số nguyên tố hoặc liên từ. Ta thấy trong câu đầu tiên từ house là chủ ngữ và liên từ là cánh cửa và liên từ ở đây là cánh cửa. Các tính năng và tính năng của hiệp hội Phép nối câu này có ý nghĩa nghệ thuật lớn nhất so với các phép nối câu khác và cách sử dụng cũng đa dạng hơn về mặt từ ngữ. Nó thường được sử dụng trong tiểu thuyết, truyện ngắn và bút ký. Là hình thức liên tưởng thích hợp nhất cho sự phát triển chủ đề và nội dung cho tác phẩm. Là phương tiện chính được sử dụng trong câu đố, chơi chữ. hiệp hội đồng nhất Chất liệu dùng để liên tưởng là hai yếu tố cùng loại, có thể là người, con vật, sự vật, sự việc nào đó. Và nó thuộc cùng một loại từ với danh từ, động từ, tính từ… Chiêm niệm cùng loại Là những đối tượng đồng nhất bình đẳng với nhau, không phân biệt được cái nào bao gồm cái nào, giúp tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa hai câu. Ví dụ “Những người lính xung quanh. Du kích theo sau.” Trích trong tác phẩm người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi. Yếu tố là bộ đội, yếu tố là du kích, nhưng ta không xác định được cái nào gồm cái nào. hiệp hội định lượng Là kiểu liên kết xét về chất, xét về lượng khi chúng cùng một loại như đồ ăn, thức uống, động vật, Trong liên kết định lượng này, tất cả các chữ cái đều được kèm theo danh từ. Trước số từ chỉ lượng nói chung đều có các trợ từ như all, all, Ví dụ Năm người chúng tôi như năm con ong thợ. Mỗi người tự nguyện nhận nhiệm vụ của mình. Hiệp hội định vị Sự liên kết giữa một con vật, sự vật hoặc hành động với nơi tồn tại điển hình của nó trong không gian. Ví dụ Cánh đồng nước tràn ngập tiếng sóng vỗ. Gió thổi ngang thuyền. Ta thấy địa điểm chính ở đây là ruộng nước, ca nô là thành phần hoạt động trong ruộng nước. Liên kết công dụng – chức năng của sự vật Sự liên kết giữa một con vật, tĩnh vật hoặc một hành động với chức năng điển hình của nó. Hình minh họa “Mặt biển đang dần mở rộng và đã nối lại với nhau. Sóng lăn tăn, màu trắng xám xung quanh ngày càng man rợ.” Trả lời Câu trên sử dụng phép liên kết là liên kết vị trí, hai từ liên kết là mặt biển và sóng. Kết bài Liên tưởng thường được sử dụng khi viết văn, tập làm văn. Vì vậy việc nắm vững tất cả những kiến ​​thức trên sẽ giúp ích cho bạn rất 4. Thủ thuật sáng tạo mạnh_ LIÊN TƯỞNGBài 4. Thủ thuật sáng tạo mạnh_ LIÊN TƯỞNGBài 4. Thủ thuật sáng tạo mạnh_ LIÊN TƯỞNG sự kết hợp Ví dụ, chia thành 2 chức năng cơ bản mà mọi người hay sử dụng nhất là NGHE và NHÌN. LẮNG NGHE khi bạn nghe thấy ai đó hô “chuối!!!” thì lập tức hình ảnh quả chuối hiện ra trong đầu hoặc tùy theo mức độ minh mẫn của não bộ mà mỗi người có thể liên tưởng đến những hình ảnh “lạ lùng” khác NHÌN khi đọc một từ/câu/đoạn nào đó trong trang sách có nội dung “sexy” thì ngay lập tức trong đầu hiện lên hình ảnh một hot girl có số đo 3 vòng chuẩn như Ngọc Trinh tùy theo cách hiểu của mỗi người. người mà hình ảnh xuất hiện sẽ khác Lợi ích to lớn Vì bộ não con người ghi nhớ thông tin dưới dạng hình ảnh tốt hơn. Có thể chứng minh điều đó bằng cách cố gắng đưa ra một danh sách những thứ cần mua CHỈ CÓ, và một danh sách khác có HÌNH ẢNH, danh sách này sẽ dễ nhớ hơn nếu sử dụng hình ảnh. Các khả năng của hiệp hội là không giới hạn. Mọi người đều có thể sử dụng trí tưởng tượng của mình để hình dung ra mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống. 🧩 Câu đố thông minh Hãy tưởng tượng một người ở giữa sông, xung quanh là hàng trăm con cá sấu, lao tới hung hãn, mong ăn tươi nuốt sống người này. Hỏi làm cách nào để người đó có thể ra khỏi vòng an toàn? Đáp án nằm ở cuối bài, nếu hiểu nội dung bài bạn sẽ hiểu vì sao tác giả muốn đánh đố câu hỏi này Dựa trên kinh nghiệm sống cá nhân Điều này sẽ phụ thuộc vào lượng kiến ​​​​thức đã được tích lũy trong cuộc sống đồ vật, hình ảnh, biểu tượng, Khi nghe về một vấn đề, một sự việc, một sự vật nào đó, hãy nghĩ đến một hình ảnh minh họa liên quan đến sự vật đó càng đơn giản càng tốt, nên chọn hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong đầu. . Chẳng hạn khi nghe đến từ khóa “anh hùng”, theo kinh nghiệm và kiến ​​thức của tác giả, hình ảnh một anh chàng vạm vỡ, đẹp trai sẽ hiện ra đầu tiên trong tâm trí. Từ đó giúp GHI NHỚ đến từ khóa “anh hùng” Sử dụng công cụ “Google Search” Khi gặp một từ khóa mà không nghĩ ra được hình ảnh quen thuộc để minh họa cho từ khóa đó thì phải làm sao? Rất đơn giản, hãy sử dụng công cụ tìm kiếm mạnh mẽ nhất đó là Google Ghi nhớ nghĩa của từ vựng tiếng Anh Áp dụng sự liên tưởng trong học tiếng Anh là một trong những cách hiệu quả để nhớ nghĩa của từ nhanh và lâu. Giả sử khi bạn bắt gặp một từ khóa mới, ví dụ như “Thuật toán”, đây là một từ khá khó nhớ và khó hình dung. Vì vậy, các bước để bắt đầu ghi nhớ từ này bằng kỹ thuật liên tưởng như sau Tra từ điển để biết nghĩa của từ Lên google search theo cú pháp > Tải về tài liệu Phép liên Định nghĩa phép liên tưởng là gì? Phép liên kết liên tưởng Phép liên tưởng là phép sử dụng những từ ngữ chỉ những sự vật có thể nghĩ đến, suy luận ra theo một hướng nào đó và nó xuất phát từ những từ ngữ ban đầu nhằm tạo ra mối liên kết giữa các phần, các đoạn chứa chúng trong một đoạn văn. Đây cũng là khái niệm phép liên kết liên tưởng là gì ? Phép liên tưởng không chứa hoặc tồn tại các nghĩa đối lập trong các yếu tố liên kết ấy. Trong phép liên kết câu và liên kết đoạn này, các quan hệ ngữ nghĩa chỉ là cơ sở để tạo nên sự liên tưởng. Vì vậy mà các thành phần tham gia vào quan hệ sẽ không quy định về thứ tự đứng, vị trí đứng, nó có thể đứng trước, đứng sau, làm chủ tố hoặc liên tố. Phép liên tưởng có giá trị cao về mặt nghệ thuật, vì vậy các tác phẩm truyện, kí, tiểu thuyết sử dụng phép liên tưởng này nhiều nhất. Nó được sử dụng nhiều ở dạng câu đố, là phương tiện quan trọng để xây dựng câu đố. Sự liên tưởng là gì ? Nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện tượng khác có liên quan Quan hệ liên tưởng là gì ? Quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố cùng nhóm chức năng – ngữ nghĩa có thể thay thế được cho nhau trong một vị trí của chuỗi lời nói. Nghĩa là cùng một chỗ trong lời nói có thể thay thế bằng một loạt các yếu tố đồng loại. Những yếu tố đồng loại đó nằm trong mối quan hệ liên tưởng. VD Trong câu Chú bộ đội rất dũng cảm. Thì thành phần chủ ngữ “ chú bộ đội “ có thể được thay thế bằng “ cô bộ đội” , “ bố” , “mẹ” , “ chú cảnh sát”,.. thì những từ có thể thay thế được như vậy là vì nó có quan hệ liên tưởng với nhau. Dưới đây là ví dụ về phép liên tưởng và trình bày cách thực hiện thủ thuật liên tưởng Hãy tham khảo để làm bài tập về phép liên tưởng nhé Ví dụ 1 Trong nhà có tiếng guốc lẹp kẹp. Cửa từ từ mở ra. Phép liên tưởng từ nhà suy ra cửa. Ví dụ 2 Cánh cửa mở toang ra. Cùng với khí lạnh của đêm mùa xuân trên núi cao, bổng tỏa vào nhà một thứ hương hoa tím nhạt. Phép liên tưởng Từ cửa => Nhà. Ví dụ 3 Gần nhà xa ngõ. Liên tưởng nhà => ngõ. Ví dụ 4 Lưng trước, bụng sau. Con mắt ở dưới, cái đầu ở trên. 4 từ ngữ chỉ liên tưởng là Lưng, bụng, mắt, đầu. Chúng giúp chúng ta có thể suy đoán ra lời giải cho câu đố đó là cái cẳng chân. Viết đoạn văn có sử dụng phép liên tưởng Trong cuộc sống quanh ta, có rất nhiều gương sáng về ý chí, nghị lực vượt khó để vươn lên, chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng số phận bất hạnh và thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký là một trong số đó. Đây chính là người thầy giáo đầu tiên ở Việt Nam soạn bài, chấm bài, viết văn bằng chân. Bằng nghị lực phi thường và ý chí mạnh mẽ vượt lên số phận bất hạnh đã giúp thầy để trở thành một “Nhà giáo ưu tú”. Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, bản thân lại bị liệt cả hai tay sau một cơn sốt kéo dài từ lúc còn nhỏ tuổi, Nguyễn Ngọc Ký rơi vào hoàn cảnh thật đáng thương. Ngày ngày, thấy bạn bè cùng lứa tuổi tung tăng cắp sách đến trường, cậu nhóc cũng thèm lắm. Thấy con ham học, năm Ký lên sáu tuổi, bố mẹ dẫn cậu đến trường. Cô giáo thương Ký lắm nhưng đành lắc đầu. Không được học ở trường, Ký tự học ở nhà. Niềm khao khát được biết chữ đã khiến cậu bé nghĩ ra nhiều cách để tập viết. Thoạt đầu, cậu viết bằng miệng, nhưng không thành công. Một lần tình cờ nhìn thấy đàn gà bới đất bằng chân, Nguyễn Ngọc Ký loé lên ý nghĩ là có thể dùng chân để viết. Sau đó, cậu đã kiên trì tập viết bằng chân… Kết quả, cậu không những viết thành thạo mà còn viết rất đẹp và trở thành học sinh giỏi trong nhiều năm liền, hai lần được Bác Hồ tặng huy hiệu… Vượt qua tất cả rào cản, giờ đây cậu bé Nguyễn Ngọc Ký ngày nào đã trở thành một “Nhá giáo ưu tú” với những đóng góp đáng kể cho ngành giáo dục… Phép liên tưởng có bao nhiêu loại? Phép liên tưởng được chia thành 2 dạng chính là liên tưởng đồng chất và liên tưởng khác chất. 1. Liên tưởng đồng chất a. Định nghĩa phép liên tưởng đồng chất Là phép liên tưởng sử dụng 2 yếu tố, 2 chất liệu, 2 chủng loại… cùng chung 1 loại. Ví dụ như đồng và sắt đều là kim loại. Chúng phải cùng một loại từ như danh từ, tính từ, động từ, trạng từ… b. Phân loại phép liên tưởng đồng chất Được chia thành 3 loại gồm liên tưởng bao hàm, liên tưởng định lượng và liên tưởng đồng loại. Liên tưởng bao hàm Là bao hàm giữa những cái chung, cái tổng quát với các riêng, chi tiết, bộ phận. Ví dụ Trâu đã già. Đôi sừng kềnh càng như hai cánh nỏ. Ta thấy cái chung là con trâu, cái riêng là sừng. Liên tưởng đồng loại Là những đối tượng đồng chất ngang hàng với nhau, không thể phân biệt được cái nào bao hàm cái nào, tạo ra một liên kết chặt chẽ, logic trong câu. Ví dụ Mưa vẫn ồ ạt như vỡ đập. Ánh chớp lóe lên soi rõ khuôn mặt anh trong một giây. 2 thành phần liên tưởng là mưa và ánh chớp, nhưng giữa 2 từ này có điểm chung và không có từ nào bao hàm từ còn lại, chúng bổ sung nghĩa cho câu. Liên tưởng định lượng Khi các từ liên kết cùng chung một loại thì số lượng, chất liệu sẽ được đem ra để so sánh và đánh giá. Ví dụ 1 Năm đứa chúng tôi như năm con ong thợ. Mỗi người đều tự giác nhận lấy phận sự của mình. Ta thấy 2 từ năm đứa chúng tôi và từ mỗi người đều có nghĩa là nói về cùng 1 đối tượng là con người. Ví dụ 2 Lan học giỏi toán, Mai học giỏi văn. Hai người họ là học sinh đứng đầu lớp. Các từ là Lan, Mai và hai người đều mô tả chung 1 đối tượng là con người. 2. Liên tưởng khác chất Trong phép liên tưởng khác chất được chia thành 4 loại nhỏ gồm liên tưởng định vị, liên tưởng công dụng- chức năng, liên tưởng đặc trưng sự vật và liên tưởng nhân quả. Liên tưởng định vị Là sự liên tưởng giữa một vật, đồ vật, tĩnh vật hoặc một hành động với vị trí tồn tại của nó trong cùng một không gian xác định. Có thể hiểu đơn giản như không gian như trường học thì các đối tượng là thầy, cô, học sinh. Hay trong không gian bệnh viện thì các đối tượng là bác sĩ, ý tá, bệnh nhân. Ví dụ Đồng nước tràn ngập tiếng sóng vỗ rì rào xao động. Gió vi vu thổi ngang qua xuồng. Không gian là đồng nước còn vật là chiếc xuồng. Liên tưởng công dụng – chứng năng của sự vật Là phép liên tưởng giữa một động vật, tĩnh vật hoặc một hoạt động với chức năng, khả năng của nó. Có thể hiểu đơn giản là khi nói đến con gà trống thì khả năng của nó là gáy ò ó o. Hay con chim thì hót ríu ro. Hoặc bác sĩ thì có khả năng là chữa bệnh… Ví dụ Suốt cả tuần này anh không ngủ. Đôi mắt anh thẫm sâu. Nhắc đến đôi mắt thì ta nghĩ đến khả năng là ngủ. Liên tưởng đặc trưng Là phép liên tưởng giữa một sự vật, tĩnh vật hoặc một hoạt động với dấu hiệu điển hình đặc trưng của nó. Hiểu theo nghĩa đơn giản như hoa mai, hoa đào nở hoa là báo hiệu mùa xuân đến, trong đó sự vật là hoa mai nở và hoạt động đặc trưng là mùa xuân đến. Ví dụ Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Ta thấy phép liên tưởng đặc trưng trong đoạn thơ sau có các dấu hiệu như chim én, cỏ non, cành lê là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân. Liên tưởng nhân quả Là phép liên tưởng có nguyên nhân là sự vật, sự việc, hoạt động… và dẫn đến kết quả tương ứng với các nguyên nhân đó. Ví dụ Bích phương rất chăm chỉ làm việc. Nó kiếm được nhiều tiền. Ta thấy, để có được nhiều tiền thì hành động làm việc là nguyên nhân chính. Kết luận Đó là câu trả lời cho câu hỏi phép liên tưởng là gì? Kèm theo đó là các ví dụ minh họa chi tiết từng loại phép thế mà các em cần nắm vững. Từ khóa tìm kiếm ví dụ về phép liên kết,liên tưởng tương tự,trường liên tưởng là gì,trường liên tưởng,phép liên tưởng lớp 9,tác dụng của phép liên tưởng,phep lien ket,biện pháp liên tưởng,phép đồng nghĩa,phương thức liên tưởng,liên tưởng tương tự là gì,cùng trường liên tưởng là gì,thế nào là phép liên tưởng,bài tập về phép liên tưởng Trích nguồn Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung Danh mục Blog Nguồn GS-PTS Phan Dũng – TRUNG TÂM SÁNG TẠO KHOA HỌC KỸ THUẬT TSK thuộc Đại Học Tự nhiên, 227 Nguyễn Văn Cừ, P4, Q5, khi chúng ta bàn sâu về các khái niệm, các lý thuyết mang tính học thuật, tôi chọn cách tiếp cận KỸ NĂNG SÁNG TẠO qua khoảng 40 CÁC THỦ THUẬTNGUYÊN TẮC SÁNG TẠO CƠ BẢN do giáo sư Alshuller – người Nga, kỹ sư, nhà sáng chế, nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng….. Mỗi thủ thuật sẽ trình bày theo các mục sau Nội dung văn bản phát biểu thủ thuậtGiải thích đối với các thủ thuật, cần làm rõ các khái niệm trong xét trong mục này trình bày những nhận xét về thủ thuật, một số khả năng khái quát, tương tự hoá nhằm giúp người đọc mở rộng cách hiều và nắm được tinh thần của thủ ví dụ minh hoạ nội dung phát biểu các thủ thuật lấy từ các lĩnh vực khác nhau, nhưng không quá sâu về chuyên vui minh hoạ thủ thuật, giúp bạn nhớ và liên tưởng tốt đến thủ thuật và làm cho topic thư giãn ta đã tìm được 40 thủ thuật dùng cho tư duy sáng tạo kỹ thuật. 40 THỦ THUẬT NGUYÊN TẮC SÁNG TẠO Nguyên tắc phân nhỏNguyên tắc tách khỏiNguyên tắc phẩm chất cục bộNguyên tắc phản đối xứngNguyên tắc kết hợpNguyên tắc vạn năngNguyên tắc chứa trongNguyên tắc phản trọng lượngNguyên tắc gây ứng suất sơ bộNguyên tắc thực hiện sơ bộNguyên tắc dự phòngNguyên tắc đẳng thếNguyên tắc đảo ngượcNguyên tắc cầu tròn hóaNguyên tắc linh độngNguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa”Nguyên tắc chuyển sang chiều khácSử dụng các dao động cơ họcNguyên tắc tác động theo chu kỳNguyên tắc liên tục tác động có íchNguyên tắc “vượt nhanh”Nguyên tắc biến hại thành lợiNguyên tắc quan hệ phản hồiNguyên tắc sử dụng trung gianNguyên tắc tự phục vụNguyên tắc sao chép copyNguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt”Nguyên tắc thay thế sơ đồ cơ họcSử dụng các kết cấu khí và lỏngSử dụng vỏ dẻo và màng mỏngSử dụng vật liệu nhiều lỗNguyên tắc thay đổi màu sắcNguyên tắc đồng nhấtNguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phầnThay đổi các thông số hóa lý của đối tượngSử dụng chuyển phaSử dụng sự nở nhiệtSử dụng chất oxy hóa mạnhThay đổi độ trơSử dụng vật liệu hợp thành composit1. NGUYÊN TẮC PHÂN NHỎ Nội dung – Chia đối tượng thành các phần độc lập.– Làm đối tượng trở nên tháo lắp được.– Tăng mức độ phân nhỏ của đối tượng Nhận xét 1- Từ “đối tượng” trong 40 nguyên tắc, cần hiểu theo nghiã rộng. Đó có thể bất kỳ cái gì có khả năng phân nhỏ được, không nhất thiết phải là đối tượng kỹ thuật. Tương tự như vậy đối với các thủ thuật khác có từ” đối tượng”. 2- Thủ thuật này thường dùng trong những trường hợp khó làm “trọn gói”, “nguyên khối”, “một lần”. Nói cách khác, phân nhỏ ra cho vừa sức, cho dễ thực hiện, cho phù hợp với những phương tiện hiện có…. 3- Phân nhỏ đặc biệt hay dùng trong những trường hợp cần có bề mặt tiếp xúc lớn như trong các phản ứng hoá học, tạo sự cháy nổ, trao đổi nhiệt, trao đổi nhiệt 4- Tháo lắp làm cho đối tượng trở nên nhỏ gọn, thuận tiện cho việc chuyên chở, xếp đặt và khả năng thay thế từng bộ phận đối tượng, kể cả việc mở rộng chức năng của từng bộ phận đó. 5- Cần tưởng tượng nhờ phân nhỏ mà đối tượng, ban đầu ở thể rắn, chuyển dần sang dẻo, lỏng khí, plasma….., nói chung, có thể phân nhỏ đến vi mô. 6- Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, cho nên, phân nhỏ có thể làm đối tu7ọng có thêm những tính chất mới, thậm trí, ngược với tính chất đã có. 7- Nguyên tắc phân nhỏ hay dùng với các nguyên tắc 2. Tách khỏi, 3. Phẩm chất cục bộ, 5. Kết hợp, 6. Vạn năng, 15 Linh động… Các ví dụ 1- Dây kim loại 1 sợi to, cứng, khó cuộn tròn… nếu phân nhỏ thành dây kim loại nhiều sợi thì khắc phục được nhược điểm của dây một sợi to Thước mét phân nhỏ thành thước gập, phân nhỏ nữa thành thước dây mềm, Báo khổ rộng in thành những cột nhỏ cho dễ Ngũ cốc nghiền thành bột, từ đó làm bún, miến, mì, bánh các loại…5- Xe chở vật siêu trường siêu trọng, thay vì làm bánh xe ô tô cho thật lớn, người ta làm xe có rất nhiều dãy bánh kích thước bình Bảng quảng cáo ngoài trời một mặt được chia nhỏ theo chiều dọc như rèm cửa văn phòng để quảng cáo được nhiều thông tin Tàu thuỷ lớn chia hầm tàu thành các ngăn độc lập, nếu lỡ bị thủng thì dễ cô lập ngăn bị thủng, không làm chìm tàu.………………………………………….. …Minh họa vui Du khách hỏi hướng dẫn viên du lịch “Nếu tôi lọt hố, rủi gẫy chân, ông đem tôi lên được chứ?”Hướng dẫn viên du lịch “Ồ tất nhiên rồi. Tôi đã từng vác một con bò bị gãy chân từ hố sâu lên một cách dễ dàng … ngập ngừng chỉ có điều tôi phải xả nó ra làm tư cho vừa một lần Nguyên tắc tách khỏi đối tượng Nội dung Tách phần gây “phiền phức” tính chất “phiền phức” hay ngược lại, tách phần duy nhất “cần thiết” tính chất “cần thiết” ra khỏi đối tượng. Nhận xét 1 – Đối tượng, thông thường, có nhiều thành phần tính chất, khía cạnh, chức năng…, trong khi đó, người ta chỉ thực sự cần 1 trong những số đó. Vậy không nên dùng cả đối tượng vì sẽ tốn thêm chi phí hoặc vận chuyển không thuận tiện. Phải nghĩ cách tách cái cần thiết ra để sử dụng riêng. Tương tự như vậy đối với phần gây phiền phức, để khắc phục nhược điểm có trong đối tượng. 2 – Do tách khỏi đối tượng mà phần tách ra hoặc phần giữ lại có thêm những tính chất, những khả năng mới nhiều khi, ngược với cái cũ. Do đó, cần tận dụng chúng. Những tính chất, những khả năng mới có thể là gọn hơn, linh động hơn, dễ thay thế, tăng tính điều khiển… 3 – Khi nói “tách khỏi” mới chỉ ra định hướng suy nghĩ, định hướng việc làm. Để trả lời câu hỏi “Làm thế nào để tách khỏi?” cần tham khảo cách làm ở những lĩnh vực chuyên về công việc đó như luyện kim, lọc, trích ly, chọn giống, giải phẫu, tuyển lựa… 4 – Nguyên tắc tách khỏi hay dùng với các nguyên tắc 1. Phân nhỏ, 3. Phẩm chất cục bộ, 5. Kết hợp, 6. Vạn năng, 15. Linh động… Các thí dụ 1. Trước đây, tiếng hát là một phần của ca sỹ. Muốn nghe hát, người ta phải mời ca sỹ đến, trong đó cái thực sự “cần thiết” cho nhiều trường hợp chỉ là tiếng hát. Sau này, tiếng hát được tách ra thành đĩa hát, băng ghi âm. 2. Cà phê hòa tan, mắm cô, mì ăn liền, hương phở, bột ngọt, đường. 3. Trong các bộ phận của cái bàn, mặt bàn đóng vai trò quan trọng. Do yêu cầu của công việc, đời sống, cần có những mặt bàn khác nhau về trang trí. Khăn trải bàn, xét theo ý nghĩa này, chính là kết quả của việc “tách khỏi”. 4. Áo gối, vỏ chăn bông…tách khỏi gối và chăn, nên khi bị bẩn không cần thiết phải giặt nguyên cả chăn hay gối. 5. Các thư viện lớn có nhiều sách, việc tìm sách trực tiếp gặp nhiều khó khăn. Người ta tách những thông tin chính về quyển sách thành thư mục, thuận tiện cho bạn đọc. 6. Số lượng các bài báo khoa học, kỹ thuật ngày càng nhiều, nhằm giúp đỡ các nhà chuyên môn theo dõi và quyết định các bài báo cần thiết để đọc. Người ta đưa ra các loại tạp chí, tóm tắt nội dung chính các bài báo. 7. Các loại kìm khác nhau ở phần gọng kìm và đây mới là phần chức năng chính của kìm. Trên cơ sở tách gọng ra khỏi tay cầm, người ta chế tạo ra loại kìm, chỉ trong 2 – 3 phút thay gọng là có được chiếc kìm loại khác. Trước kia, chỉ cần phần làm việc của gọng kìm bị mòn quá độ hoặc hư, người ta phải bỏ nguyên cả cái kìm. Kìm loại mới bền hơn mà giá thành không cao, vì việc tách khỏi mở ra khả năng làm gọng và tay cầm từ các loại thép khác nhau gọng làm bằng thép tốt, chất lượng cao, còn tay cầm – gang chứa cacbon, rẻ tiền. 8. Viện sỹ quá cố Kapitsa, người được giải Nobel về vật lý, lúc còn sống rất thích ý tưởng truyền năng lượng đi xa bằng dòng bức xạ điện từ tần số cao. Ngày nay, ý tưởng đó đã có khả năng biến thành hiện thực. Hãng “Lockheed Georgia” đang thực hiện đề án do NASA đặt hàng, nhằm chế tạo loại máy bay không người lái, được tiếp năng lượng bằng ăngten đặt trên mặt đất. Theo tính toán, máy bay như vậy có thể ở trên không liên tục 2 – 3 tháng do được “nuôi” bằng chùm tia cao tần 2MHz phát từ ăngten magnetron. Tần số nói trên được chọn, đủ để không làm ion hóa không khí và đủ lớn để dòng năng lượng khong bị phân tán, do vậy, tiết kiệm được năng lượng truyền. Ăngten thu, đặt dưới cánh máy bay, biến sóng điện từ thành dòng điện một chiều, công suất khoảng 30KW. Động cơ 25 – 40 mã lực làm quay cánh quạt và cung cấp điện cho các máy móc thí nghiệm trên máy bay. Máy bay không người lái loại này sẽ sử dụng để theo dõi liên tục thành phần hóa học của khí quyển, đặc biệt là nồng độ CO2. Máy bay thực hiện các vòng bay hình số 8 xung quanh ăngten ở độ cao 20km, cho phép không chỉ theo dõi thành phần khí quyển mà còn chụp những bức ảnh có độ phân giải cao hơn nhiều về tình hình nông nghiệp và giao thông vận tải. 9. Loại sơn do các nhà hóa học từ công ty Nhật Bản “Chugoku Marine Paints” chế tạo, biến công việc sơn trong nước trở nên dễ dàng như trong không khí. Sơn loại mới gồm hai thành phần, khi sử dụng trộn lẫn lại với nhau. Thành phần thứ nhất là một loại men màu trên cơ sở nhựa epoxy, thành phần thứ hai là chất làm dẻo, phản ứng độc đáo khi gặp nước. Hỗn hợp được đưa đến các chi tiết cần sơn, các phân tử của chất dẻo đẩy các phân tử nước ra khỏi bề mặt chi tiết và chiếm chỗ của chúng từng phân tử nước dần dần bị đẩy khỏi lớp sơn cho đến hết. Sơn dính tốt với nhiều loại vật liệu, không làm đầu độc và ô nhiễm nước. Thời gian khô hoàn toàn từ 4 đến 8 tiếng, tùy theo nhiệt độ. Truyện vui Sau khi người ta công bố phát minh ra tia Rơnghen, một lần nhà bác học Rơnghen nhận được một bức thư kì là. Người gửi thư yêu cầu gửi cho anh ta vài tia Rơnghen kèm theo bản hướng dẫn sử dụng chúng. Thì ra, trong lồng ngực trong lồng ngực của anh ta có mắc một viên đạn súng lục nhưng anh ta “không có thời giờ” để đến chỗ Rơnghen. Nhà bác học có tính hài hước đã trả lời như sau “Tiếc rằng bây giờ tôi không có tia X. Vả lại gửi đi cũng phiền toái lắm. Ta làm thế này cho tiện vậy Anh hãy gửi lồng ngực đến cho tôi”.3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ Nội dung a Chuyển đối tượng hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài có cấu trúc đồng nhất thành không đồng Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chức năng khác nhauc Mỗi phần của đối tượng phải ở trong những điều kiện thích hợp nhất của công việc Nhận xét 1- Các đối tượng đầu tiên thường có tính đồng nhất cao về vật liệu, cấu hình, chức năng, thời gian, không gian… đối với các phần trong đối tượng. Khuynh hướng phát triển tiếp theo là các phần có các phẩm chất, chức năng… riêng của mình nhằm phục vụ tốt nhất chức năng chính hoặc mở rộng chức năng chính đó. 2- Các đối tượng đồng nhất đầu tiên còn phát triển theo khuynh hướng chuyên dụng hóa, đa dạng hóa so với nhau, để phù hợp nhất với môi trường, điều kiện làm việc, sự thuận tiện đối với người sử dụng, thị hiếu của người tiêu dùng cụ thể… 3- Với thời gian, môi trường, tác động bên ngòai cũng bị biến đổi theo khuynh hướng thích hợp với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đối tượng và của con người sử dụng đối tượng đó. Xuất hiện các loại vi môi trường, vi khí hậu, vi tác động… 4- Nói chung, nguyên tắc phẩm chất cục bộ phản ánh khuynh hướng phát triển từ đơn giản sang phức tạp, từ đơn điệu sang đa dạng. 5- Tinh thần “phẩm chất cục bộ” có ý nghĩa lớn đối với việc nhận thức và xử lý thông tin không phải tin tức nào cũng có giá trị như tin tức nào. Không thể có một cách tiếp cận, dùng chung cho mọi loại đối tượng – “chân lý là cụ thể”. Các thí dụ 1- Các tờ lịch dùng để chỉ ngày, thứ trong tuần, nhưng các ngày không giống nhau có ngày làm việc, chủ nhật và ngày lễ nghỉ. Để phân biệt điều ấy , các ngày nghỉ được in mực đỏ. 2- 37oC là thân nhiệt của người khỏe mạnh. Thân nhiệt thấp hoặc cao hơn nhiệt độ này là “có vấn đề”. Để nhần mạnh điều này, trên các cặp nhiệt độ, 37oC được ghi bằng màu đỏ. 3- Để bảo vệ sách tốt, bìa thường được làm dày hơn nhiều so với trang sách. Cẩn thận hơn nữa, bề mặt của bìa còn được phủ một lớp nhựa trong suốt để bảo vệ. 4- Quần áo mặc thường rách trước tại những chỗ như đầu gối, khuỷu tay, vai, nách, các đường chỉ may. Do vậy, đặc biệt với quần áo bảo hộ lao động những chỗ nói trên thường được làm dày hơn và may thành gân ở những chỗ ghép các mảnh vải. 5- Mái nhà thường lợp bằng tôn tráng kẽm nhưng tại những chỗ cần lấy ánh sáng, người ta dùng tôn nhựa trong suốt. 6- Các đồ vật đa dạng hóa như bút có nhiều loại bút, bàn có nhiều loại bàn, xe có nhiều loại xe… 7- Cách sắp xếp các phím chữ cái trên bàn máy chữ đã quá quen thuộc với mọi người. Điều này dễ hiểu vì nó có tuổi thọ một trăm năm. Trong khi đó các nhà tạo mẫu, xuất phát từ các qui luật tổ chức lao động văn phòng và các thành tựu hiện đại của kỹ thuật, từ lâu đã đề nghị cách sắp xếp khác, thuận lợi cho tay trái và tay phải hơn. Điều này có thể tăng tốc độ đánh máy chữ lên ba lần. Tuy vậy, chưa thấy nhà sản xuất nào vội vã áp dụng cả. Có lẽ, nhà máy “Optikoelektron” ở Bungari là nhà máy sớm nhất châu Âu sản xuất loại máy chữ này. 8- Tại các nhà máy thuộc tổ công nghiệp “Erikson” Thụy Điển, người ta thực hiện cuộc thử nghiệm liên quan đến việc tổ chức lại cách chiếu sáng. Kết quả, độ chiếu sáng chung giảm đi hai lần nhưng độ chiếu sáng tại nơi làm việc lại tăng lên đáng kể, tiết kiệm được 55% năng lượng điện và năng suất đứng máy của công nhân tăng thêm 20%. Các chuyên gia giải thích kết quả đạt được bằng các nguyên nhân tâm lý tăng độ tiện nghi đối với người làm việc. 9- Trong suốt một thời gian dài, người sử dụng Si siêu sách làm pin mặt trời là chủ yếu. Sau đó các nhà bác học quyết định thaynó bằng hợp chất bán dẫn GaAs, là loại vật liệu có hiệu suất cao hơn. Sự thay thế này chứng tỏ quá vội vã. Các kỹ sư Mỹ và Pháp đưa ra loại pin mặt trời tổ hợp hai loại trên. Trong đó Si hấp thụ một phần phổ năng lượng mặt trời, GaAs thì hấp thu phần khác. Hiệu suất của loại pin mới này đạt tới 27%. Hiệu suất còn tăng lên hơn nữa, nếu sử dụng thêm các chất bán dẫn Ge và AlAs. 10- Một số công ty tư bản, tuy làm được những sáng chế quan trọng nhưng không đăng kí nhận patent. Họ cho rằng giữ bí mật công nghệ để độc quyền có lợi hơn. Ví dụ, công ty “Portland-Cement” Đan Mạch đưa ra bán loại bánh răng cưa kích thước lớn, hầu như làm toàn bằng bê tông chỉ lớp trên cùng của bánh răng là kim loại. Bánh răng bê tông nhẹ, có tuổi thọ cao hơn bánh răng kim loại, chịu ăn mòn tốt hơn. 11- Trước đây có đến 30% các vụ tai nạn trại các cảng của Phần Lan là do các bao tải polyetilen mưa, tuyết, sương sớm làm các bao tải trở nên trơn trượt và cả núi các bao đựng cá đông lạnh, ximăng, phân bón, các hạt nhựa polimer…đổ ập xuống. Công ty “Vyyk an Heglund” nghiên cứu và sản xuất loại bao tải polyetilen có bề mặt nhám với hệ số ma sát rất lớn. 12- Xoong, nồi chế tạo tại Thụy Điển, được các nhà chuyên gia cho rằng có thể dùng bền 100 năm. Trong khoảng thời gian này, chúng không bị cháy, rỉ sét hay nứt rạn. Bí quyết là ở chỗ xoong, nồi có ba lớp kim loại, sản xuất theo cách ép đồng, dẫn nhiệt tốt. Lớp giữa dày nhất, làm bằng nhôm, có tách dụng phân phối nhiệt đều. Lớp tiếp xúc với thức ăn làm bằng thép không rỉ, dễ cọ rửa và hợp vệ sinh. Truyện vui Một chàng nghiện rượu người Scotland bước vào quán. Giá rượu ở đây đắt đến nỗi anh phát khùng– Tại sao đắt như vậy? – Anh hỏi người chủ quánChủ quán trả lời– Tiền rượu bằng nửa chỗ đó, nửa chỗ kia dành cho việc khách ngắm cảnh trí trưng bày trong hôm sau, anh chang Scotland trở lại quán, bịt mắt bằng vải nhựa đen. Anh ta lò dò đi lại quầy, gọi một ly rượu, nốc cạn rồi trả nửa tiền, trở ra mà không nói một 4. Nguyên tắc phản đối xứng Nội dung Chuyển đối tượng có hình dạng đối xứng thành không đối xứng nói chung làm giảm bậc đối xứng Nhận xét 1. Từ “hình dạng”, phát biểu trong thủ thuật này cần hiểu rộng, không chỉ thuần tuý theo nghĩa hình học. 2. Giảm bậc đối xứng, ví dụ chuyển từ hình tròn thành hình ôvan, hình vuông sang hình chữ nhật,… 3. Thủ thuật này rất có tác dụng tỏng việc khắc phục tính ì tâm lý, cho rằng các đối tượng phải có hình dạng đối xứng. 4. Khi đối tượng chuyển sang dạng ít đối xứng hơn, có thể làm xuất hiện những tính chất mới lợi hơn. Ví dụ tận dụng được những nguồn dự trữ về không gian nói chung là các khả năng tiềm ẩn, làm đối tượng ổn định hơn, bền vững hơn,… 5. Nguyên tắc phản đối xứng, có thể nói là trường hợp riêng của 3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ, có mục đích làm tăng tính tương hợp tương ứng và phù hợp giữa các phần của hệ với nhau và với môi trường bên ngoài, nhằm thực hiện chứuc năng một cách tốt nhất. Các thí dụ 1. Các xe ô tô du lịch loại nhỏ có cửa mở ở cả hai phía nhưng các xe lớn ô tô buýt chẳng hạn, chỉ mở phía tay phải sát với lề đường. 2. Theo dõi sự tiến hoá của cái kéo, ta thấy cái kéo ban đầu có dạng đối xứng cao, sau đó hai lỗ xỏ các ngón tay có kích thước khác nhau lỗ lớn, lỗ theo cả phần tay cầm nằm lệch hẳn một bên so với trục của cái kéo kéo dùng của thợ may. 3. Chân chống xe đạp đặt dưới trục giữa, có hình dạng đối xứng, nhưng ở xe máyL một chân có hình thước thợ. Từ chỗ chân chống xe đặt chính giữa chuyên sang loại chân chống đặt ở phía trái xe, giữ xe không phải trong tư thế thẳng mà hơi nghiêng. 4. Chỗ ngồi của lái xe trong ô tô không phải chính giữa mà ở bên trái hoặc bên phải, tuỳ theo luật giao thông cho phép phía phải hay phía trái. 5. Ở xe gắn máy, vỏ xe bánh trước và bánh sau có các vết khía khác nhau, không như xe đạp. 6. Các đồ trang sức, trang trí, mốt quần áo, kiến trúc cũng có khuynh hướng chuyển từ đối xứng sang phản đối xứng. 7. Để tăng độ tin cậy và làm công việc đóng, mở cống được dễ dàng, chỉ cần một người cũng làm được. Nắp đậy cống làm hình ôvan thay vì có hình tròn. 8. Từ rất lâu người ta đã biết dùng conpa để vẽ đường tròn. Điều này được chứng minh qua các bức tranh vẽ cái compa, có từ thời trung cổ tại nhiều nước châu Âu. Xí nghiệp Kovopol của Tiệp Khắc sản xuất loại compa mới, chỉ có chiều dài 120mm nhưng có thể vẽ được đường tròn có đường kính tới 600 mm vì một chân của compa được ghép nối, dài thêm ra bừang một cái chân phụ. Compa loại này được nhận huy chương vàng tại Hội chợ quốc tế, tổ chức tại Brno. 9. Các thống kê cho thấy, 50% các tai nạn ô tô thường xảy ra vào ban đêm, trong đó, 60% có người chết, mặc dù tốc độ của các xe đi ngược chiều lúc tránh nhau, nhiều khi chỉ bằng 25 – 30 km/h. Trong đêm tối, ngay cả ánh đèn chiếu gần đèn cốt đủ làm người lái xe phía ngược chiều bị loá mắt, đến nỗi mất định hướng và lái xe ép sát lề hoặc đụng vào xe phía ngược chiều. Trong các điều kiện như vậy, để nhìn rõ hố thậm chí hố được che chắn bằng những hàng rào báo hiệu hoặc các vật lạ nằm trên đường cũng rất khó khăn. Các chuyên gia cho rằng, tốt nhẩm không nên chiếu vào xe đi ngược lại bằng bất kỳ anhs áng nào, trừ những đèn nhỏ, thực sự không làm chói mắt và chỉ nên chiếu sáng phía bên phải đường. Công ty Thuỵ Điển “Remark AV” đề nghị gắn đèn pha ở tấm chắn bùn bên phải, phía trước đèn chiếu sáng đường đi mà không làm loá mắt lái xe phái ngược lại. 10. Khi nói đến những chiếc khoan, người ta thường nghĩ ngay tới việc tạo ra các lỗ tròn. Trong khi dóm yêu cầu kỹ thuật, nhiều khi, đòi hỏi phải có những lỗ vuông hoặc hình chữ nhật. Các chuyên gia của một công ty Mỹ đã chế tạo ra loại khoan đáp ứng yêu cầu trên. Đó là chiếc khoan cầm tay, dùng pin hoặc ắc quy đủ dùng cho 3 giờ, có tốc độ khoan đối với các tấm bê tông. Khoa sử dụng nguyên tắc cắt xọc để tạo lỗ vuông nhợ bộ rung cao tần. Truyện vui Anh A khoe với anh B– Hôm qua tớ vừa thắng hai nhà vô địch, một vô địch về cờ, một vô địch về bóng B– Cậu giỏi thật! Chơi với cậu đã lâu mà mình chưa biết tài năng của A đáp– Có gì đâu, đối với nhà vô địch bóng bàn tớ thắng về cờ, còn nhà vô địch về cờ thì tớ thắng về bóng Nguyên tắc kết hợp Nội dung a Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt động kế Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất hoặc kế cận. Nhận xét 1- “Kế cận”, không nên chỉ hiểu gần nhau về mặt vị trí hay chức năng, mà nên hiểu là có quan hệ với nhau, bổ xung cho nhau….do vậy, có thể có những kết hợp các đối tượng ” ngược nhau” ví dụ bút chì kết hợp với tẩy .2- “Kết hợp” cần hiểu theo nghiã rộng, không đơn thuần cộng thêm kiểu số học hay gắn thêm kiểu cơ học, mà còn được hiểu chuyển giao, đưa vào những ý tưởng, tính chất, chức năng….từ những lĩnh vực hoặc những đối tượng Đối tượng mới, tạo nên do sự kết hợp, ,thường có những tính chất, khả năng mà từng đối tượng riêng rẽ trước đây chưa có. điều này có nguyên nhân sâu xa là lượng đổi thì chất đổi và do tạo được sự thống nhất mới của các mặt đối thực tế, các hiện tượng, quá trình, sự việc….thường hay đan xen nhau nên khả năng kết hợp luôn luôn có. do vậy, cần chú ý khai thác nguồn dự trữ Nguyên tắc kết hợp thường hay sử dụng với 1. Nguyên tắc phân nhỏ, 3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ…Điều này phản ánh một khuynh hướng phát triển biện chứng sự liên kết, hợp tác hoá thường đi kèm với sự phân công lao động và chuyên môn hoá. Ví dụ – Nhiều chià khoá kết hợp lại thành chùm chià khoá, tránh thất lạc.– Súng nhiều nòng.– Máy may nhiều kim– Bút kẻ khuông nhạc gồm 5 đầu ngòi, kẻ một lần 5 dòng song song– Bấm móng tay có phần giũa móng tay.– Bàn ủi có bộ phận phun nước– Buá có đầu đóng đinh, đầu nhổ đinh– Đàn organ điện tử có thể thay thế cho một ban nhạc. Chuyện vui Bệnh nhân nói với bác sĩ– Thưa bác sĩ, tôi bị đau tim, có một ông bác sĩ khuyên tôi nên đi bộ, ông khác khuyên tôi nên an dưỡng ở vùng biển. Vậy theo ông tôi phải làm gì bây giờ?Bác sĩ nói– Tôi nghĩ rằng, ông nên đi bộ đến vùng biển mà an Nguyên tắc vạn năng Nội dung Đối tượng thực hiện một số chức năng khác nhau, do đó không cần sự tham gia của đối tượng khác. Nhận xét – Nguyên tắc vạn năng là trường hợp riêng của nguyên tắc kết hợp kết hợp về mặt chức năng trên cùng một đối tượng. – Nguyên tắc vạn năng, trước tiên và hay được dùng trong các lĩnh vực, tại đó có những sự hạn chế việc phát triển theo “chiều rộng” như khó có thể tăng thêm về trọng lượng, thể tích, diện tích… Các lĩnh vực đó là quân sự, hàng không, vũ trụ, thám hiểm, du lịch, các trang thiết bị dùng tại những nơi chật chội… – Nguyên tắc vạn năng còn được dùng với mục đích tăng mức độ tận dụng các nguồn dự trữ có trong đối tượng, do vậy, tiết kiệm được vật liệu, không gian, thời gian, năng lượng -Nguyên tắc vạn năng thường hay dùng với nguyên tắc 20. Nguyên tắc liên tục tác động có ích. – Nguyên tắc vạn năng đóng vai trò quan trọng trong thiết kế, chế tạo, dự báo…, vì nó phản ánh khuynh hướng phát triển, tăng số chức năng mà đối tượng có thể thực hiện được Các thí dụ 1. Xe lội nước vừa đi được trên bộ, vừa đi được dưới nước 2. Thuỷ phi cơ 3. Xẻng công binh dùng trong quân đội vừa có thể dùng trong quân đội vừa có thể dùng như xẻng, vừa có thể dùng như cuốc 4. Cánh cửa mở của một số máy bay đồng thời là trhang lên, xuống cho hành khách. 5. Loại tủ mà mở cánh ra thì biến thành bàn học 6. Loại ổ cắm cho phép sử dụng được với cả hai loại phích cắm dẹt và phích cắm tròn. 7. Máy may, thêu, vắt sổ, đính cúc. 8. Bút thử điện đồng thời là tuốc-nơ-vít. 9. Theo lời khuyên của các kỹ sư, ở một số vùng nông thôn Đức, người ta tiến hành thử nghiệm một cách có hiệu quả các bộ phận thu nhiệt từ ánh nắng mặt trời để làm nóng nước. Các bộ phận thu nhiệt này đồng thời thực hiện chức năng làm hàng rào các chuồng trại chăn nuôi. Trong các ống polietylen màu đen, vào mùa hè, nước được hâm nóng đến 54độ C, còn vào mùa thu và mùa xuân đến 38độ C, đủ cung cấp nước ấm không chỉ cho chuồng trại mà còn thêm một ngôi nhà ở. Mùa đông, các ống này dùng làm ống sưởi. Chuyện vui Một diễn viên trung bình đến nhờ nhà văn Bernard Shaw viết thư giới thiệu anh ta cho ban giám đốc một nhà hát nổi tiếng. Nhà văn đồng ý và viết “Tôi khẩn thiết giới thiệu với các bạn người cầm thư này. Anh ta đóng Hamlet, Romeo,… chơi pianô, thổi sáo và chơi bida. Chơi hay nhất là bida”.7. Nguyên tắc “chứa trong” Nội dung a Một đối tượng được đặt bên trong đối tượng khác và bản thân nó lại chứa đối tượng thứ ba …b Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong đối tượng khác. Nhận xét 1- “Chứa trong” cần hiểu theo nghiã rộng, không chỉ đơn thuần theo nghiã không gian. Ví dụ, khái niệm này nằm trong khái niệm khác, lý thuyết này nằm trong lý thuyết khác, chung hơn… 2- Nguyên tắc “chứa trong” là trường hợp riêng, cụ thể hoá 3. nguyên tắc phẩm chất cục bộ. Điều này thể hiện ở chỗ, nếu trước kia không phân biệt “trong” và “ngoài” thì nay “trong” và “ngoài” có các phẩm chất, chức năng riêng.….Tương tự như vậy, giữa “bề mặt” và “thể tích”. 3- “Chứa trong” chỉ ra hướng tận dụng những nguồn dự trữ có sẵn trong đối tượng, cụ thể là phần thể tích bên trong đối tượng. Nếu để ý quan sát ta sẽ thấy rất nhiều đối tượng vẫn còn chưa được khia thác “tiềm năng” này. 4- “Chứa trong” làm cho đối tượng có thêm những tính chất mới mà trước đây chưa có như gọn hơn, tăng độ an toàn, bền vững, tiết kiệm năng lượng, linh động hơn….. 5- Nguyên tắc “chứa trong” hay dùng với các nguyên tắc 1. nguyên tắc phân nhỏ, 2. nguyên tắc “tách khỏi”, 5. nguyên tắc kết hợp, 6. Nguyên tắc vạn năng, 12. nguyân tắc đẳng thế, tắc liên tục tác động có ích…. Các ví dụ 1- Loại ăngten dùng cho máy thu thanh, thu hình, khi cần có thể kéo dài hoặc thu ngắn lại nhờ những ống kim loại đặt bên trong tay cầm dùng cho tuốc-nơ-vít, khoan tay…bên trong rỗng, có nắp vặn, đóng vai trò cái hộp đựng đầu tuốc-nơ-vít, mũi Tủ đặt trong tường Loại cửa đóng , mở chạy từ trong tường chuyển vật liệu trong các đường ống……………. Chuyện vui Vợ một người thợ săn nhận được tin chồng mình bị cọp vồ ở châu Phi. Người ta chở quan tài về, lúc mở ra, chỉ thấy con cọp chết nằm trong. Bà vợ vội đánh điện hỏi“Nhầm lẫn khủng khiếp. Con cọp chết, sao nói chồng tôi chết?”Sau đó bà nhận được điện trả lời“Không nhầm lẫn. Con cọp ở trong quan tài, còn chồng bà ở trong con cọp.”8. Nguyên tắc phản trọng lượng Nội dung a Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách gắn nó với các đối tượng khác, có lực Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng tương tác với môi trường như sử dụng các lực thủy động, khí động… Nhận xét 1- Nếu hiểu theo nghiã đen, nguyên tắc phản trọng lượng là cụ thể hoá 5. nguyên tắc kết hợp kết hợp đối tượng cho trước với đối tượng khác hoặc với môi trường bên ngoài, có lực nâng, để bù trừ với cái “có hại” là trọng lượng của đối tượng cho trước. 2- Về mặt ngôn từ phát biểu, nguyên tắc phản trọng lượng đặc thù riêng cho kỹ thuật. Tuy nhiên ta có thể nắm được tinh thần thủ thuật này bằng cách khái quát hoá như sau đối tượng cho trước có nhược điểm, cần kết hợp đối tượng cho trước với đối tượng khác, có ưu điểm, mà ưu điểm đó có thể bù trừ cho nhược điểm. ý tưởng này có gợi ý cho bạn về cách dùng người không? 3- Thủ thuật này đòi hỏi sự mềm dẻo trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề nếu khắc phục trực tiếp nhược điểm là điều khó làm thì nên nghĩ cách bù trừ nó bằng sự kết hợp với ưu điểm nào đó. 4- “Bù trừ” một cách tiết kiệm nhất, trước hết, cần nghĩ đến việc khai thác các nguồn dự trữ có sẵn trong hệ thống, đặc biệt những nguồn dự trữ tời cho không mất tiền, có sẵn trong tự nhiên. 5- Nhiều khi, sự bù trừ lại cho những tính chất, khả năng mới. Cần chú ý tận dụng chúng. Ví dụ 1- Các loại phao, cầu Đối trọng trong các barie, cần cầu, gầu múc nước giếng, thang máy, đồng hồ đo điện……3- Cánh máy bay có hình dạng thích hợp hình khí động học để tạo lực nâng khi chuyển Lướt ván5- Nhảy dù, hãm máy bay bằng Mỏ neo giữ tàu khỏi Búp bê “lật đật” không bao giờ đổ8- Tàu thủy có cánh dưới nước – hạn chế chòng – Vì ít người thích xem quảng cáo, nên người ta chiếu xen quảng cáo vào giữa các chương trình yêu thích Hàng hoá bao bì hình thức đẹp….bù trừ cho chất lượng hàng không Ca sĩ nhảy múa vũ đạo đẹp, âm thanh ánh sáng sôi động……bù trừ cho cho việc hát Người thua kém…dùng quần áo, trang sức đắt tiền bên ngoài….để tạo sự kính trọng nơi nguời khác.………… Chuyện vui A và B nói chuyện với nhauA- Này anh bạn tôi có câu Ờ thì nói Anh cứ tưởng tượng, anh đang đi ngoài phố…..B- Rồi sao?A- Bỗng anh thấy hai cái túi nằm trên lề Chà, hai túi tiền chứ gì?A- Một túi đựng tiền, một túi đựng trí khôn. Anh lấy túi nào?B- Anh tưởng tôi tham tiền phải không? Không, tôi lấy túi trí Tôi đã nghĩ mà. Ai không có thứ gì thì hay lấy thứ Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ Nội dung Gây ứng suất trước với đối tượng để chống lại ứng suất không cho phép hoặc không mong muốn khi đối tượng làm việc hoặc gây ứng suất trước để khi làm việc sẽ dùng ứng suất ngược lại . Nhận xét 1- Từ “ứng suất” cần phải hiểu theo nghiã rộng, không chỉ đơn thuần là sự nén, sự kéo căng cơ học….mà là bất ký loại ảnh hưởng, tác động Thông thường, sau tác động sẽ có phản tác động. Cần chú ý làm sao cho phản tác động mang lại ích lợi Tinh thần chung của nguyên tắc này là muốn gặt thì phải gieo trồng, chăm bón, đầu tư từ trước Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ cùng với 10. Nguyên tắc thực hiện sơ bộ, 11. Nguyên tắc dự phòng, phản ánh sự thống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương Ba nguyên tắc nói trên đòi hỏi phải có sự nhìn trước, dự báo, tưởng tượng, nghĩ trước, chuẩn bị giải pháp Chúng giúp khắc phục thói quen xấu ” nước đến chân mới nhảy”.7- Chúng đòi hỏi xem xét khả năng tận dụng các nguồn dự trữ về thời gian, do đó, sẽ tiết kiệm được thời gian trên thực Việc sử dụng ba nguyên tắc nói trên có thể làm đối tượng có những tính chất mới mà trước đây đối tượng chưa có và tạo sự thống nhất mới của các mặt đối lập. Ví dụ 1- Dán Đúc áp lực, đúc ly Loại đồ chơi phải lên dây cót Súng phải lên quy-lát trước khi bắn. Nói chung, các loại lò xo cần phải nén hoặc kéo căng trước để khi làm việc dùng ứng suất ngược xoong, nồi, sau một thời gian nấu ăn, đáy bị võng xuống dưới. để tránh tình trạng này, người ta sản xuất chúng có đáy hơi lồi lên trên để sau này, đáy võng xuống dưới và trở nên phẳng là Bơm trước nước lên các bể chứa, đặt trên tầng thượng, để dùng nước chảy Muốn dùng ắc-quy phải nạp điện Trước khi phẫu thuật phải gây tê, gây mê nạn nhân, gây tê cục bộ…..9- Để bắt và chuyên chở thú dữ, người ta gây mê chúng hay cho chúng uống thuốc Học và đào tạo trước khi làm Để uốn các ống kim loại cho đẹp, đều……mà không làm móp, nứt, gãy. Người ta nung nóng chỗ cần uốn đến nhiệt độ thích hợp trước khi thực hiện Khí, gas được nén trong các bình chứa và mở ra dùng dần nhờ áp suất cao trong bình. Chuyện vui Nhà văn Victor Hugo cần thời gian để viết cho xong một cuốn tiểu thuyết. Sợ mình thiếu kiên nhẫn và để giam mình ở nhà một cách có hiệu quả, ông liền cắt tóc một nửa đầu, cạo một nửa bộ râu, rồi vứt cả dao kéo qua cửa sổ. Ông không ra khỏi nhà, ngồi viết một mạch cho đến khi tóc và râu mọc lại. Thế là một tác phẩm mới ra Nguyên tắc thực hiện sơ bộ Nội dung a Thực hiện trước sự thay đổi cần có, hoàn toàn hoặc từng phần, đối với đối Cần sắp xếp đối tượng trước, sao cho chúng có thể hoạt động từ vị trí thuận lợi nhất, không mất thời gian dịch chuyển. Nhận xét 1- Từ “thay đổi” cần phải hiểu theo nghiã rộng2- Có những việc, dù thế nào, cũng cần phải thực hiện. Thủ thuật này đòi hỏi phải tính đến khả năng thực hiện trước đi một phần hoặc toàn bộ và sẽ được lợi hơn nhiều so với thực hiện ở thì hiện tại hiểu theo nghiã tương đối.3- Tinh thần chung của thủ thuật này là trước khi làm bất cứ việc gì, cần có sự chuẩn bị trước đó một cách toàn diện, chu đáo và thực hiện trước những gì có thể thực hiện được – “chuẩn bị trước là một nửa của thành công” Xem thêm phần nhận xét của 9. Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ. Các ví dụ 1- Các loại giấy tờ in sẵn trước những phần chung cho tất cả mọi người để tiết kiệm thời gian, chỉ cần điền vào chỗ trống. Đặc biệt trong các giấy thăm dò ý kiến, các câu trả lời cũng được in sẵn, người được hỏi ý kiến chỉ việc đánh dấu là nhãn bôi keo trước, khi dùng chỉ việc Tem, biên lai đã tạo lỗ trước, ki cần xé ra dễ dàng, nhanh Loại bao bì bao thuốc lá chẳng hạn được dán sẵn băng dây bóng, giúp bóc ra nhanh chóng5- Trong các hộp sữa bột có để thìa múc bột, đồng thời làm chức năng định Cưa đặt cùng với các ống tiêm trong hộp. Cao hơn nữa, người ta đã tạo vết cưa trước trên ống tiêm, khi cần chỉ việc bẻ phẩm làm sẵn, mua về là có thể nấu ngay bị, sắp đặt các dụng cụ cần thiết trước cuộc giải Các chi tiết, kết cấu được chế tạo trước để làm nhà tiền chế, lắp ghép. Bê tông đúc Hầm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn được làm trước trên cạn gồm bốn đốt hầm, sau đó dìm xuống nước, ghép nối thành đường hầm. Chuyện vui Hai người câu cá hay gặp người có thói quen rắc gì đó xuống nước trước khi kia thấy làm lạ bèn hỏi Anh rắc cái gì trước khi câu cá vậy?– Mình rắc muối xuống hồ để ướp cá trước, giật lên là mình có thể đem chiên được ngay. – người bạn trả Nguyên tắc dự phòng. Nội dung Bù đắp độ tin cậy không lớn của đối tượng bằng cách chuẩn bị trước các phương tiện báo động, ứng cứu, an toàn. Nhận xét 1- Ít có công việc nào, có thể thực hiện với độ tin cậy tuyệt đối. Đấy chưa kể, điều kiện, môi trường, hoàn cảnh với thời gian cũng thay đổi. Do vậy cần tiên liệu trước những mạo hiểm, rủi ro, tai nạn, ốm đau, bệnh tật, thiên tai có thể xảy ra mà có những biện pháp dự phòng từ Ngoài ra , cần chú ý đến các hậu quả xấu có thể có do kết quả công việc mang lại mọi cái đều có phạm vi áp dụng của nó, nếu đi ra ngoài phạm vi áp dụng này, lợi có thể biến thành hại; trong cái lợi có thể có cái hại; có thể lợi về mặt này nhưng hại về mặt thể nói, chi phí cho dự phòng là chi phí thêm, không mong muốn. Khuynh hướng phát triển là tăng độ tin cậy của đối tượng, công việc. Để làm điều đó cần sử dụng các vật liệu mới, các hiệu ứng mới, cách tổ chức mới…..4-Tinh thần chung của nguyên tắc này là cảnh giác và chuẩn bị biện pháp đối phó từ trước. Xem thêm phần NHẬN XÉT của thủ thuật 9. nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ. Ví dụ 1-Các phương tiện báo cháy, phòng cháy, chữa Các phao, xuồng cấp cứu trên các tàu Phi công mang các loại cầu chì, van chốt an loại chuông đèn báo sự nguy Các loại kính khi bị vỡ thành những mảnh tròn thay vì những mảnh sắt nhọn7- Các loại quỹ lương thực, hàng hoá, tiền…dự phòng8- Các biện pháp phòng tránh bệnh chủng ngừa, rửa tay, khám định kỳ…….9- các biện pháp phòng tội phạm10- Các đường hầm có đường cứu nạn hai bên phòng bị nước tràn vào hay cháy nổ…thì có nơi ẩn Các cơ chế, kịch bản…ứng phó với thiên tai, khủng bố, bạo động…của chính phủ. Chuyện vui Nhà khoa học A. Giliaropski thường bực mình vì nhiều người mượn sách của ông mà không trả nghĩ ra một cách bảo vệ sách. Trên mỗi trang đầu của cuốn sách, ông đều ghi sẵn dòng chữ“Quyển sách này lấy cắp từ thư viện của A. Giliaropski”Từ đó trở đi, sách được trả lại nhanh Nguyên tắc đẳng thế Nội dung Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hay hạ xuống các đối tượng Giải thích Quỹ tích của những điểm có cùng một thế năng, gọi là mặt đẳng thế. Trong vật lý người ta đã chứng minh được rằng, một vật chuyển động trên mặt đẳng thế thì không sinh công. Nhận xét 1-Nghĩa đen của nguyên tắc này là trong điều kiện làm việc có lực trọng trường của trái đất, cần làm như thế nào đó để mọi thứ xảy ra trên cùng một độ cao mặt đẳng thế là các mặt cầu, đồng tâm với trái đất, tránh nâng lên, hạ xuống, thay đổi độ cao trong quá trình làm việc. Vì như vậy sẽ mất thêm năng lượng. 2-Tinh thần chung của nguyên tắc này là phải đạt được kết quả cần thiết với năng lượng, chi phí ít nhất. Góp phần bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên năng lượng hiệu quả. 3-Tuy thế giới xung quanh cực kỳ đa dạng nhưng giữa chúng có những cái chung, những cái ít bị thay đổi theo thời gian. Về mặt nhận thức, cần chú ý đặc biệt đến những cái đó, ví dụ, các định luật bảo toàn. 4-Về cách nhìn, cách tiếp cận, đánh giá, xây dựng các cấu trúc, cần xuất phát từ những quy luật có phạm vi áp dụng lớn dĩ bất biến ứng vạn biến. Các thí dụ – Các loại đồ dùng, vật dụng có gắn bánh xe như túi vali, bàn, ghế, tủ,…. – Dùng băng tải thay cho cần cẩu và ôtô. – Dùng các ống dẫn, đặt cùng một độ cao – Tại các nhà ga, người ta làm sân ga bằng với chiều cao của sàn tàu, để hành khách dễ dàng ra, vào các toa tàu. – Đường lên núi làm theo kiểu xoáy trôn ốc để đường dốc thoai thoải, dễ leo. – Công tắc điện xe máy đặt ở tay lái thay vì đặt ở dưới thấp gần bộ điện, để người sử dụng không phải cúi xuống khi thao tác. – Các bảng điện, bảng đồng hồ điều khiển, bảng thông báo,… đặt đúng với tầm nhìn. – Người đan len khi phải đan cùng một lúc vài cuộn len thường phải chỉnh các cuộn len cho đừng lăn đi xa hoặc phải gỡ rối. Người ta lập 1 cái hộp đựng các cuộn len vào đó, mỗi cuộn là 1 ngăn, trên nắp hộp đục lỗ, mỗi sợi len của 1 cuộn len đi qua 1 lỗ đó. – Các ống cấp nước nóng cho các nhà máy và khu dân cư thường phải chôn sâu dưới đất, do vậy tốn nhiều công sức của người và năng lượng dùng cho máy. Các kỹ su thuộc tập đoàn LOKHYA Phần Lan chế tạo một loại ống mới, chỉ cần đặt cách mặt đất 40cm là đủ, không bị mất nhiệt ngay cả khi trời lạnh. Ống mới từ hai ống ghép lại, làm bằng sắt tráng kẽm, cách nhiệt bằng bông thuỷ tinh và bao bọc bởi vật liệu xốp độ xốp 94%, cứng. Ngoài cùng là lớp vỏ chịu nước có độ dày 5mm. Kết cấu có tuổi thọ và độ bền cao, nhẹ và rẻ. Chuyện vui Khi di cư sang Mỹ sống ở NewYork, tình cờ ông gặp một người quen. Người ấy khuyên ông Ngài Einstein, ngày nên mua ngay chiếc áo mới đi. Áo ngài đã cũ lắm rồi. Einstein trả lời Để làm gì? Cả NewYork này có ai biết tôi đâu. Một thời gian sau, cũng chính người đó gặp lại Einstein ở NewYork và Einstein vẫn mặc chiếc áo khoác cũ trước đây. Người ấy lại khuyên ông mua chiếc áo mới. Einstein trả lời Để làm gì? Cả NewYork này ai cũng biết tôi Nguyên tắc đảo ngược a/ Nội dung – Thay vì hành động như yêu cầu bài toán, hãy hành động ngược lại ví dụ không làm nóng mà làm lạnh đối tượng.– Làm phần chuyển động của đối tượng hay môi trường bên ngoài thành đứng yên và ngược lại, phần đứng yên thành chuyển động.– Lật ngược đối tượng b/ Nhận xét – Hiện thực khách quan gồm các mặt đối lập. Trong một số hoàn cảnh nhất định, xét theo mối quan hệ đối với mình, con người chỉ sử dụng một mặt đối lập vì nó đem lại ích lợi, lâu dần, hình thành tính ì tâm lý, không cho phép người ta thấy và sử dụng mặt đối lập kia cũng có ích lợi của nó.– Việc xem xét khả năng lật ngược vấn đề, trên thực tế, là xem xét “nửa kia” của hiện thực khách quan nhằm mục đích tăng tính bao quát, toàn diện, đầy đủ và khắc phục tính ỳ tâm lý.– Về mặt suy nghĩ, khi giải bài toán cho trước bài toán thuận người giải nên xem xét thêm khả năng giải bài toán ngược và khả năng đem lại lợi tích của lời giải bài toán ngược trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nào, để tận dung nó.– Làm ngược lại có thể cho đối tượng có thêm những chức năng, tính chất, khả năng mới. c/ Các thí dụ – Chữa cơm sống bằng cách lật ngược nồi trên bếp lửa hoặc gắp than đổ để trên nắp vung nồi.– Loại băng chuyền chạy về một phía, người trên đó chạy về phía ngược lại dùng để tập chạy trong nhà.– Tương tự như vậy đối với việc thử nghiệm xe các bánh xe đặt trên những trục lăn.– Nhiều công việc, để chuyển từ thủ công sang cơ khí hoá, người ta làm ngược lại. Ví dụ nếu cưa gỗ bằng tay thì gỗ đứng yên nhưng khi cưa bằng máy thì gỗ chuyển động, tương tự như vậy đối với các máy cắt, máy mài.– Trong việc đun nấu, thông thường người ta cung cấp nhiệt từ bên ngoài vào, nhưng như ấm đun nước người ta cung cấp nhiệt từ trong ra thông qua các sục, may so, ruột gà, que đun nước,….– Nhà sáng chế Nga xây dựng cột đèn chiếu sáng có độ cao 70m với giàn đèn công suất 200KW. Đèn có thể chiếu sáng diện tích 70 héc ta, thích hợp với công viên, trang trại, bến cảng, sân bay,…. Để bảo trì, sửa chữa, thay bóng đèn thuận lợi, thay vì người thợ phải trèo lên tận giàn đèn, ông làm hệ thống dây cáp cho phép hạ nguyên cả giá đỡ giàn đèn xuống mặt đất. Điều này còn mang lại lợi ích bảo vệ được đèn và cột đèn khi có gió lớn. d/ Chuyện vui Chú bè nghèo gõ cửa nhà của một bà quý tộc– Bà có thể cho cháu chút gì được không ạBà quý tộc vốn keo kiệt, trả lời– Cháu bé đáng thương ơi, ta chẳng có gì để cho cháu. Nhưng ta có thể sai người vá lại chỗ rách hoặc đơm khuy áo vào quần áo của bé nghèo– Ôi Bà thật độ lượng. Vậy thì – chú bé móc túi lấy ra một chiếc nút – thưa bà, đây là chiếc nút áo, bà hãy làm phúc đơm vào đây cho cháu một chiếc áo sơ Nguyên tắc cầu tròn hoá Nội dung a Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong, mặt phẳng thành mặt cầu, kết cấu hình hộp thành kết cấu hình Sử dụng các con lăn, viên bi, vòng Chuyển sang chuyển động quay, sử dụng lực ly tâm. Nhận xét 1- Việc tạo chuyển động quay trong kỹ thuật không khó, nên các công cụ làm việc muốn cơ khí hoá được tốt, cần chuyển về dạng tròn, trụ, Một đối tượng dạng tròn, cầu có những ưu điểm như bậc đối xứng cao, đồng đều, ít bị va quệt, bề mặt tiếp xúc với môi trường là ít nhất, tác động bên ngoài là ít nhất nên có tính bền vững, an toàn cao, độ linh động lớn…3- Hình tròn, cầu chứa trong nó tính thống nhất của hai mặt đối lập hữu hạn và vô tròn hoá” cần hiểu theo nghiã rộng, ví dụ thẳng và vòng theo nghiã bóng, hở và khép kín theo nghiã bóng….5- Nguyên tắc cầu tròn hoá còn nói lên sự đa dạng đường thẳng chỉ có một nhưng đường cong thì có vô số. Do vậy. cách tiếp cận không nên quá cứng nhắc người ta thường nói nguyên tắc quá hỏng việc.6- Trong kỹ thuật có khuynh hướng tạo những công nghệ khép kín, không thải chất độc hại ra môi trường. Trong kinh doanh có dịch vụ khép kín Nhà hàng+ Khách sạn+Vui chơi giải trí+siêu thị + rạp chiếu phim+ nhà sách, trong nông nghiệp mô hình VAC vườn ao chuồng cũng là khép kín……. Các ví dụ – Thước dây chuyển thành thước cuộn.– Dây may so bếp điện, dây gắn ống nghe điện thoại có dạng lò xo xoắn– Đầu ngòi viết cầu hoá thành bi, bút thường chuyển thành bút bi.– Gương lõm, gương lồi, gương cầu, các loại thấu kính hội tụ, phân kỳ.– một camera 360 độ theo dõi được tất cả các hướng thay cho phải lắp nhiều camera bình hường chỉ theo dõi được một góc nhìn 90 độ.– Bàn hình tròn, hình ô-van.– Sơn bằng chổi rulô có dạng hình trụ.– Sân khấu cong, sân khấu quay.– Nhà hàng có bàn tròn quay quanh một trục, để khách không phải với tay gắp thức ăn.– Các điểm nút giao thông giao nhau dùng vòng xoay, cầu vượt xoáy trôn ốc. Chuyện vui Nhà vật lý người Đức, Kiecxop trình bày những kết quả nghiên cứu về quang phổ mặt trời. Ông chỉ ra những vạch đen và chứng minh rằng, trên mặt trời có vàng. Một chủ nhà băng ngồi nghe bỗng hỏi– Nếu người ta không thể khai thác được thì thứ vàng đó có lợi gì?Sau đó ít lâu, Kiecxop được tặng huy chương vàng vì những phát hiện mới về quang phổ mặt trời, ông đưa huy chương vàng cho chủ nhà băng nọ và nói– Ông thấy đấy, tuy tôi không đến được mặt trời, nhưng tôi vẫn lấy được vàng từ mặt Nguyên tắc linh động Nội dung a Cần thay đổi các đặt trưng của đối tượng hay môi trường bên ngoài sao cho chúng tối ưu trong từng giai đoạn làm Phân chia đối tượng thành từng phần, có khả năng dịch chuyển với nhau. Nhận xét 1- Thông thường, công việc là quá trình, xảy ra trong khoảng thời gian nhất định. gồm các giai đoạn với những tình huống khác nhau. Nguyên tắc linh động đòi hỏi phải có cái nhìn bao quát cả quá trình để làm đối tượng hoạt động tối ưu trong từng giai đoạn. Muốn thế đối tượng không thể ở dạng cố định, cứng nhắc mà phải trở nên điều khiển được. Xét về mặt cấu trúc, các mối liên kết trong đối tượng phải “mềm dẻo”, “có nhiều trạng thái”, để từng phần đối tượng có khả năng “dịch chuyển” hiểu theo nghiã rộng đối với nhau. 2- Cần phải hiểu từ “tối ưu” trong hai mối quan hệ 1 đối với chính đối tượng, công việc mà đối tượng thực hiện và 2 đối với người sử dụng và môi trường bên ngoài bảo đảm sức khỏe, không gây ô nhiễm. 3- Tinh thần chung của “nguyên tắc linh động” là, đối tượng phải có những đa dạng phù hợp với sự thay đổi đa dạng của bên ngoài để đem lại hiệu quả cao nhất. 4- Nguyên tắc linh động tạo sự thống nhất giữa “tĩnh” và “động”, “cố định” và “thay đổi”…… 5- Nguyên tắc linh động phản ánh khuynh hướng phát triển cho nên nó có tính định hướng cao, dùng rất có ích trong trường hợp đặt bài toán, phê bình cái đã có và dự báo. 6- Về mặt tư duy sáng tạo, cần khắc phục tính ì tâm lý, sao cho các ý nghĩ, sách tiếp cận trở nên linh động, tránh giáo điều cứng nhắc. Ví dụ – Các lại bià kẹp, cho phép lấy bớt hoặc thêm các tờ giấy rời.– Các loại bàn, ghế, giường ………xếp hoặc thay đổi được độ cao, độ nghiêng.– Líp xe đạp có thể quay ngược mà không ảnh hưởng đến chuyển động của xe, líp xe nhiều tầng, xe có nhiều số tốc độ.– Ô tô mui xếp, súng báng gập…… Chuyện vui Bệnh nhân nói với bác sĩ– Thưa bác sĩ, bác sĩ đừng làm tôi lo lắng với những tên bệnh la-tinh dài dòng. Xin bác sĩ cứ nói thẳng tên bệnh của tôi bằng tiếng mẹ sĩ– Nếu tôi hoàn toàn thật thà thì bệnh của anh gọi là bệnh nhân– Cám ơn bác sĩ, bây giờ xin bác sĩ cho biết tiếng la-tinh gọi là gì để tôi còn về báo cáo với lãnh đạo cơ Nguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa” Nội dung Nếu như khó nhận được 100% hiệu quả cần thiết, nên nhận ít hơn hoặc nhiều hơn “một chút”. Lúc đó bài toán có thể trở nên đơn giản hơn và dễ giải hơn. Nhận xét 1- Từ “một chút” ở đây phải hiểu linh động, không nhất định là “quá nhỏ”, “không đáng kể”, miễn sao bài toán trở nên dễ giải Sự tiến hoá, phát triển nói chung, kể cả quá trình nhận thức thường đi từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Tinh thần chung của nguyên tắc này là không nên quá cầu toàn, chờ đợi các điều kiện lý Về cách tiếp cận, nếu việc giải chính bài toán là khó thì 1 Giảm bớt đòi hỏi để bài toán dễ giải hơn, mặc dù kết quả không thật hoàn toàn như ý muốn, hoặc phải tốn thêm chi phí trong khả năng chấp nhận được; 2 Giải bài toán dễ hơn có thể đưa bài toán về trường hợp đặc biệt để qua đó tìm được những gợi ý có giá trị, giúp giải chính bài toán cho Khuynh hướng phát triển tiếp theo, khi điều kiện, hoàn cảnh, kiến thức cho phép, cần tiến tới đạt 100% hiệu quả cần thiết mà không phải tốn thêm chi Khi tiếp thu kiến thức, tìm và xử lý thông tin, không nên chỉ dừng lại với cái cho trước mà cần xem xét các trường hợp riêng, đặc biệt hoặc mở rộng, khái quát hoá, đưa về trường hợp chung….6- Giải “thiếu”, giải “thừa” trong nhiều trường hợp làm đối tượng có thêm những tính chất mới, trước đây chưa Nguyên tắc này hay thực hiện với 10. Nguyên tắc thực hiện sơ bộ. Các ví dụ 1- Thắt lưng, dây đồng hồ đục thừa nhiều lỗ để những người sử dụng khác nhau đều dùng Người ta làm sẵn các phôi chìa khoá rồi tùy chià khoá của khách yêu cầu mà giũa cho đúng răng. Điều này cho phép tiết kiệm thời gian và nhà sản xuất có thể làm hàng loạt, kinh tế Các tròng kính đeo mắt cũng được làm sẵn, sau đó theo yêu cầu của khách, của gọng kính mà cắt lại cho phù hợp và lắp Để trám vết nứt bê tông, tường….trong xây dựng nhà cửa, ngưòi ta phải đục thêm vào phần nứt để xi măng trét có độ bám Để có được trái cây lớn, người ta phải tiả cành, bỏ bớt quả Để có hoa to đẹp, người ta cũng tiả bỏ bớt nụ phiá Các mạch điện tử làm dưới dạng các thẻ, các bo mạch con, bloc, modun. Nếu dù chỉ một phần trong mạch bị hư, người ta tháo cả modun thay thế, tiết kiện thời gian. Chuyện vui Một lần, nhà báo Anh hỏi nhà sáng chế Edison– Những người trong gia đình có giúp đỡ ông trong việc sáng tạo không?Ông trả lời– Có chứ. Chẳng hạn khi trong đầu tôi léo lên một ý tưởng, cần thời gian suy nghĩ, đánh giá. Lập tức tôi kiếm ngay một cớ nào đó để hoạch họe mọi người trong gia đình. Điều đó giúp tôi làm bộ giận dỗi và đóng sập cửa, khoá chặt phòng làm việc. Tất cả mọi người trong nhà đều trở nên rón rén và cố gắng không quấy rầy tôi vì những chuyện vặt vãnh. Vậy là tôi có đủ thời gian cho các sáng chế của Nguyên tắc chuyển sang chiều khác Nội dung a Những khó khăn do chuyển động hay sắp xếp đối tượng theo đường một chiều sẽ được khắc phục nếu cho đối tượng khả năng di chuyển trên mặt phẳng hai chiều. Tương tự, những bài toán liên quan đến chuyển động hay sắp xếp các đối tượng trên mặt phẳng sẽ được đơn giản hoá khi chuyển sang không gian ba chiều.b Chuyển các đối tượng có kết cấu một tầng thành nhiều Đặt đối tượng nằm Sử dụng mặt sau của diện tích cho Sử dụng các luồng ánh sáng tới diện tích bên cạnh hoặc tới mặt sau của diện tích cho trước. Nhận xét 1- Từ “chiều” cần hiểu theo nghiã rộng, không chỉ là chiều không “Chuyển chiều” phản ánh khuynh hướng phát triển, thấy rõ nhất trong các lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, không gian toán học, vật lý tinh thể, cầu trúc các hợp chất, hoá học…..3- Nguyên tắc này nhắc nhở người giải, xem xét, và tận dụng những nguồn dự trữ về “chiều”, có trong đối tượng và môi Cần rèn luyện cách nhìn đối tượng từ những góc độ, những “chiều” khác nhau để thấy hết các khiá cạnh, các mặt, các tính chất….5- Khắc phục tính ì tâm lý trong việc sử dụng “chiều” nào đó quen Việc “chuyển chiều” làm cho đối tượng, trong nhiều trường hợp, có thêm những khả năng, tính chất mới mà trước đây đối tượng chưa có. Các ví dụ 1- Chià khoá có răng ở hai cạnh nên lúc cho chià vào ổ không mất thời gian để lựa loại quần áo mặc được cả hai ở nhiều tầng, xe buýt hai tầng, máy bay hai Các đường giao thông nhiều tầng trên mặt đất và dưới mặt Các công trình dưới biển, dưới đáy sông, trong lòng Loại tranh, tùy theo góc nhìn, thấy những hình khác nhau. Ti vi chiếu hai hình ảnh khác nhau tùy theo góc nhìn. Chuyện vui Tàu sắp chìm, một hành khách la gọi thuyền trưởng– Này ông thuyền trưởng, tàu sắp chìm đến nơi rồi, làm thế nào bây giờ? Đất liền còn xa không?– Ồ, chưa tới một dặm – Thuyền trưởng khách– Hướng nào?Thuyền trưởng– Hướng về phiá đáy con Sử dụng các dao động cơ học Nội dung a Làm đối tượng dao động. Nếu đã có dao động, tăng tầng số dao động đến tầng số siêu âm.b Sử dụng tầng số cộng Thay vì dùng các bộ rung cơ học, dùng các bộ rung áp Sử dụng siêu âm kết hợp với trường điện từ. Giải thích Bộ rung áp điện là bộ dao động dựa trên hiệu ứng áp điện piezoeffect. Hiệu ứng áp điện do Pierre và Jacque Curie tìm ra. Nội dung hiệu ứng như sau Khi nén hoặc kéo căng tinh thể theo phương nhất định, ở một số tinh thể tinh thể thạch anh chẳng hạn xuất hiện các điện tích trái dấu trên các bề mặt đối diện và chúng thay đổi dấu khi thay đổi chiều của lực cơ học tác động từ nén sang căng hoặc ngược lại. Ngược lại, nếu đặt trong điện trường thì trong tinh thể xuất hiện lực nén hay căng, tùy thuộc vào sự thay đổi chiều của điện trường. do vậy, nếu điện trường biến thiên thì tinh thể trở thành nguồn dao động. Người ta sử dụng hiệu ứng áp điện ngược để trực tiếp biến đổi điện xoay chiều thành dao động cơ học. Nhận xét 1- Thủ thuật này liên quan trực tiếp đến việc sử dụng kiến thức. Dao động cơ học, sóng âm là những hiện tượng rất phổ biến trong tự nhiên. Để sử dụng tốt các hiện tượng, hiệu ứng này, cần có sự hiểu biết về chúng một cách khoa Việc học các kiến thức cần chú ý đào sâu khả năng ứng dụng của các kiến thức đó, cụ thể, khả năng giải quyết mâu thuẫn của các kiến thức đó. Ví dụ, dao động kiểu con lắc hay nguồn phát sóng âm cho ta sự thống nhất giữa xa và gần…3- Thủ thuật nhắc chú ý đến “những trường hợp đặc biệt” như cộng hưởng, siêu âm, hiệu ứng áp điện… Các ví dụ 1- Quả chuông, ghế xích đu, võng, cầu bập bênh…… cho trẻ em Trong kỹ thuật dùng nhiều bộ rung tạo các dao động cơ Các loại đồ dùng massage trong gia đình như gối massage, ghế massage, giường massage…… Trong các thủ thuật nêu ra, đều có những ví dụ chuyên sâu trong khoa học kỹ thuật được ứng dụng. Tuy nhiên đây là topic được viết cho mọi đối tượng, nên tôi lược bỏ các ví dụ đó. Cái chính tôi muốn nêu lên các ý tưởng sáng tạo, để các cháu học sinh có thể hiểu và có thể tìm hiểu sâu hơn sau này Chuyện vui Anh A ngạc nhiên hỏi anh B– Này, tại sao uống thuốc xong anh lại nhảy lên, nhảy xuống như con choi choi vậy? Bộ anh bị phản ứng thuốc hay sao?Anh B trả lời– Không. Tôi phải làm như vậy vì trước khi uống, tôi quên lắc đều chai thuốc như lời bác sĩ dặn. Bây giờ lắc chắc vẫn còn Nguyên tắc tác động theo chu kỳ. Nội dung a. Chuyển tác động liên tục thành tác động theo chu kỳ xungb. Nếu đã có tác động theo chu kỳ, hãy thay đổi chu kỳc. Sử dụng khoảng thời gian giữa các xung để thực hiện tác động khác. Nhận xét 1- Từ “tác động” cần hiểu rộng, không nhất thiết phải là lực mà có thể là bất kỳ ảnh hưởng nào. 2- Trong hiện thực khách quan có hai mặt đối lập “liên tục” và “rời rạc” ngắt quãng. Từ “xung” ở đây có thể hiểu là “rời rạc”, “ngắt quãng”. 3- Việc chuyển sang “chế độ xung” đem lại những tính chất mới mà “chế độ liên tục” không có, ví dụ, tạo sự thống nhất giữa có tác động và không có tác động, tăng tính tương hợp của hệ thống, tiết kiệm năng lượng, tăng độ tin cậy, tăng sự đa dạng….. 4-Nguyên tắc tác động theo chu kỳ còn có ý nghiã đối với con người chứ không chỉ riêng đối với máy móc. Ví dụ, các kết quả nghiên cứu cho thấy, ánh sáng nhấp nháy, âm thanh thay đổi ngắt quãng gây sự chú ý tốt hơn là chiếu sáng liên tục hoặc âm thanh đều đều. Có một ngành gọi là “tâm lý học kỹ thuật” chuyên nghiên cứu những qui luật khách quan của các quá trình tương tác thông tin giữa người và kỹ thuật để thiết kế, chế tạo và vận hành các hệ thống ” người- máy móc”. Điều này làm tăng tính tương hợp giữa người và máy móc khi làm việc với nhau tạo ra kết quả tốt nhất, con người thấy thoải mái, dễ chịu, đỡ mệt mỏi. Các ví dụ 1- Các loại đèn chớp nháy dùng cho quảng cáo, khiêu vũ, tín hiệu báo động, giao thông……2- Các loại âm thanh báo hiệu như còi xe cấp cứu, cứu hoả, báo hiệu xe lùi, báo đổ chuông, máy bận của điện thoại…….3- Trong điện tử có bộ môn kỹ thuật Các công việc, yêu cầu có tính định kỳ như quảng cáo, lên lịch thực hiện định kỳ, ôn tập định kỳ trong học tập, giữ mối liên lạc với mọi người bằng email, điện thoại…..theo định kỳ. Minh họa vui Một khách du lịch nước ngoài mới đến Hy lạp, hỏi người địa phương qua đường xin lửa hút thuốc lá. Người Hy Lạp móc túi lấy một hộp diêm còn đầy, rút ra một que đốt thuốc cho khách rồi vứt luôn hộp diêm vào thùng rác. Khách thấy vậy, tưởng là do dị đoan hay phong tục, ngạc nhiên hỏi lý do. Người Hy Lạp trả lời– Ở nước tôi ai cũng biết rằng, cứ đánh nguyên cả hộp diêm thì chỉ một que cháy được. Ngay que đầu tiên châm thuốc cho ông đã cháy, vậy còn giữ lại hộp diêm làm gì nữa?20. Nguyên tắc liên tục tác động có ích Nội dung a Thực hiện công việc một cách liên tục tất cả các phần của đối tượng cần luôn luôn làm việc ở chế độ đủ tải.b Khắc phục vận hành không tải và trung Chuyển chuyển động tịnh tiến qua lại thành chuyển động quay. Nhận xét 1- Máy móc sinh ra để làm việc và đem lại lợi ích, vậy phải cải tiến sao cho đến từng bộ phận của máy phải luôn luôn làm việc để đem lại lợi ích và lợi ích ngày càng tăng cao. Điều này thể hiện ở chổ tăng năng suất, hiệu quả, tiết kiệm, thời gian, tăng tính tương hợp, độ bền , tuổi thọ….2- Nguyên tắc này phản ánh khuynh hướng phát triển, do vậy rất có tác dụng trong việc đánh giá, phê bình những giải pháp đã có, đặt và lực chọn những bài toán, dự báo về sự phát Nguyên tắc liên tục tác động có ích – mang tính định hướng cao nên cần, nên cần biến nó thành cách nhìn, cách nghĩ, cách tiếp cận vấn đề mang tính thường trực và khỏi Nguyên tắc này hay dùng với các thủ thuật khác như 1- nguyên tắc phân nhỏ, 2- nguyên tắc tách khỏi, 3-nguyên tắc phẩm chất cục bộ, 5- nguyên tắc kết hợp, 6- nguyên tắc vạn năng, 15- nguyên tắc linh động, 25-nguyên tắc tự phục vụ…5- Nguyên tắc liên tục tác động có ích còn thích hợp với chính người giải cần làm sao để luôn luôn sống có ích, tránh “nhàn cư vi bất thiện, chú ý làm tăng mức độ có ích. Các ví dụ 1- Ô tô vận tải, chuyến đi, chuyến về phải chở hàng, tránh chạy phát điện lúc xe, tàu không hoạt động để thắp sáng hay dùng khởi động xe và tích điện bù lại khi động cơ làm đánh cá kết hợp với chế biến, đóng hộp trên đường chở dầu kết hợp lọc dầu trên đường vận Tiền phải luôn luôn xoay vòng sinh đồ dùng vật dụng chuyển từ sử dụng một lần sang sử dụng nhiều lần.………… Chuyện vui Dân Gabrôvơ ở Bungari vốn nổi tiếng keo kiệt. Đằng sau bưu ảnh của một người ở vùng đó gửi cho bạn mình, người ta đọc thấy dòng chữ sau“Mừng Giáng Sing, mừng năm mới, mừng sinh nhật bạn…từ nay cho đến khi bạn yên giấc ngàn thu.”21. 21. Nguyên tắc “vượt nhanh”. Nội dung a. Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết. Nhận xét 1- Nếu tác động là nguy hiểm, có hại thì có thể làm nó không còn có hại nữa bằng cách giảm thời gian tác động đến tối thiểu, nói cách khác, phải vượt thật nhanh để có độ an toàn cao. 2- Trong nhiều trường hợp, đối tượng phải làm việc với những quá trình xảy ra nhanh. Để có sự phù hợp, để có được những kết quả cần thiết, bản thân đối tượng phải chuyển sang trạng thái “vượt nhanh”. 3- Tinh thần chung của nguyên tắc này là cần xem xét, chú ý đến khả năng làm tăng năng suất công việc. 4- “Vượt nhanh” có thể đem lại những tính chất mới, hiệu ứng mới cho đối tượng, ví dụ, việc hạ nhiệt độ thật nhanh được áp dụng cho các quá trình tôi luyện hay để chế tạo các chất vô định hình….. 5- Nguyên tắc “vượt nhanh” tạo ra sự thống nhất giữa “có tác động” và “không có tác động”…. 6- Nguyên tắc “vượt nhanh” thường hay dùng với các thủ thuật như 19. nguyên tắc tác động theo chu kỳ, 28- Thay thế sơ đồ cơ học, 34- Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần, 36- Sử dụng chuyển pha….. Các ví dụ 1- Để tránh đau đớn cho bệnh nhân, những thao tác như tiêm chủng, nhổ răng, nắn khớp xương…thường làm rất nhanh. 2- Máy khoan răng có tần số vòng quay lớn. 3- Do yêu cầu công việc, người ta chế tạo các loại sơn, keo dán, xi măng …..mau khô. 4- Ghế ngồi phi công bật ra khỏi buồng lái rất nhanh khi máy bay bị sự cố làm rơi, nổ. 5- Vượt nhanh là nguyên tắc hoạt động của các loại bẫy. 6- Có những nghề nghiệp phải làm thật nhanh như cứu hoả, cấp cứu, ảo thuật…………………. Chuyện vui Hai sinh viên ở ký túc xá nói chuyện với Mình để ý, mỗi lần cậu có việc đi qua nhà ông C, cậu lại đi rất nhanh, vậy là sao?B Có gì đâu, tại tớ không muốn giáp mặt… chủ Nguyên tắc biến hại thành lợi Nội dung a Sử dụng những tác nhân có hại thí dụ tác động có hại của môi trường để thu được hiệu ứng có Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa. Nhận xét 1- “Lợi” và “hại” chỉ mang tính chủ quan và tương đối. Trên thực tế, đây chỉ là hai mặt đối lập của hiện thực khách quan, vấn đề là làm sao trong cái hại tìm ra được cái lợi phục vụ con người và hài hoá với tự nhiên. 2- Thủ thuật này có chỉ ra một loạt cách làm thế nào biết hại thành lợi. Từ “tăng cường” cần hiểu theo nghiã “thay đổi” cái có hại để biến thành lợi, chứ không đơn thuần là tăng mức độ có hại. 3- Tinh thần chung của nguyên tắc này là lạc quan khi gặp những cái có hại. Thay vì chán nản, bực bội hãy đặt các câu hỏi đại loại như hại đối với cái gì? trong thời gian bao lâu, khi nào? ở đâu? Trong những điều kiện nào thì hại biến thành lợi? Tạo ra các điều kiện đó như thế nào?……Người ta thường nói rằng “Không có hoàn cảnh nào là không có lối thoát, chỉ có con người không tìm ra lối thoát.” Hay chủ tịch tập đoàn HuynDai của Hàn Quốc nói “Không có thất bại, tất cả là thử thách”. Mỗi khi khó khăn ập đến, ông luôn xem đó là cơ hội thử thách để vượt qua, chứ không là trở ngại buộc ông phải dừng lại. 4- Thủ thuật này hay dùng với các thủ thuật khác như 2. nguyên tắc “tách khỏi”, 5. nguyênt ắc kết hợp, 13- nguyên tắc đảo ngược…… Các thí dụ 1- Người ta biến sức tàn phá của lũ lụt thành điện năng bằng cách xây dựng các hồ chứa nước và nhà máy thuỷ điện. 2- Nhiều loại thuốc độc với những liều lượng thích hợp lại có tác dụng điều trị bệnh tốt như thuốc phiện, nọc rắn, nọc ong….. 3- Dùng con đĩa để hút máu độc. 4- Tiêm vi trùng yếu vacxin vào cơ thể để tạo miễn dịch. 5- Ói mửa là có hại nhưng với những người quá say hay bị ngộ độc thức ăn thì lại có lợi. 6- bài thơ Lỗ mũi mười tám gánh lôngChồng yêu chồng bảo râu rồng trời choĐêm nằm thì ngáy o oChồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhàĐi chợ thì hay ăn quàChồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơmTrên đầu những rác cùng rơmChồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu. Chuyện suy ngẫm Cái Chậu Nứt Một người có hai cái chậu lớn để khuân nước. Một trong hai cái chậu có vết nứt, vì vậy khuân nước từ giếng về nước trong chậu chỉ còn một nửa. Chiếc chậu còn nguyên rất tự hào về sự hoàn hảo của mình, còn chiếc chậu nứt luôn bị cắn rứt vì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Một ngày nọ chiếc chậu nứt nói với người chủ “Tôi thật xấu hổ về mình. Tôi muốn xin lỗi ông!”. “Ngươi xấu hổ về chuyện gì?”. “Chỉ vì lỗi của tôi mà ông không nhận được đầy đủ những gì xứng đáng với công sức của ông!”. “Không đâu, khi đi về ngươi hãy chú ý đến những luống hoa bên vệ đường”. Quả thật, dọc bên vệ đường là những luống hoa rực rỡ. Cái chậu nứt cảm thấy vui vẻ một lúc, nhưng rồi vế đến nhà nó vẫn còn phân nửa nước. “Tôi xin lỗi ông!”. “Ngươi không chú ý rắng hoa chỉ mọc bên này đường, phía của ngươi thôi sao? Ta đã biết được vết nứt của ngươi và đã tận dụng nó. Ta gieo những hạt giống hoa bên vệ đường phía bên ngươi và trong những năm qua ngươi đã vui tưới cho chúng. Ta hái những cánh hoa đó để trang hoàng căn nhà. Nếu không có ngươi nhà ta sẽ không ấm cúng và duyên dáng như thế này đâu”. Mỗi con người chúng ta đều có những cái chậu nứt, hãy tận dụng vết nứt của Nguyên tắc quan hệ phản hồi Nội dung a Thiết lập quan hệ phản hồib Nếu đã có quan hệ phản hồi, hãy thay đổi nó. Giải thích Thông thường, mỗi đối tượng hệ thống thực hiện một công việc chức năng nào đó. Ví dụ, vòi nước chảy vào bể. Nếu như kết quả công việc không có ảnh hưởng gì đến đặc tính của công việc thì ta chỉ có quan hệ thuận. Nhưng nếu kết quả công việc tác động ngược trở lại đặc tính của công việc, ví dụ, nước dâng lên làm cho đầy bể và mực nước càng cao thì làm cho nước chảy vào chậm lại nhờ phao gắn với van, thì ta có quan hệ ngược, hay gọi chung là quan hệ phản hồi. Quan hệ phản hồi mà tác động của nó làm tăng kết quả nhận được, gọi là quan hệ phản hồi dương, còn nếu ngược lại thì gọi là quan hệ phản hồi âm. Nhận xét 1- Quan hệ phản hồi là khái niệm rất cơ bản của điều khiển học, có phạm vi ứng dụng rất rộng. Có thể nói, ở đâu cần có sự điều khiển quản lý, ra quyết định, ở đó cần chú ý tạo lập quan hệ phản hồi và hoàn thiện nó. 2- Khi thành lập quan hệ phản hồi cần chú ý tận dụng những nguồn dự trữ có sẵn trong hệ để đưa ra cấu trúc tối ưu. 3- Nguyên tắc này phản ánh khuynh hướng phát triển làm tăng tính điều khiển đối tượng, tự động hoá cho nên rất có ích cho việc suy nghĩ định hướng hay lựa chọn bài toán, cách tiếp cận, dự báo. 4- Nguyên tắc này còn có tác dụng với chính người giải thường xuyên rút kinh nghiệm dựa trên những tác động ngược lại, tự điều chỉnh để ngày càng tiến bộ, tránh mắc lại những sai lầm của chính mình và của người khác. Các ví dụ 1- Phao xăng trong cacburatơ bộ chế hoà khí có tác dụng giữ xăng ở một mức nhất Các loại rờle đóng ngắt tự động cho máy làm việc hay ngừng; tùy theo nhiệt độ, cường độ dòng điện, mực nước, áp suất, độ ẩm…..3-Kính đeo mắt thay đổi độ trong suốt tùy theo cường độ ánh nắng mặt lửa tự tìm mục cuộc thăm dò ý kiến, điều tra xã hội học, trưng cầu dân ý nhằm xây dựng chính sách , quyết định của nhà Mối quan hệ cung-cầu trong kinh Động vật máu nóng, cơ thể có cơ chế tự động điều chỉnh để duy trì thân nhiệt ở một nhiệt độ nhất Xe máy tay ga tự động điều chỉnh cấp số truyền động theo tải và tốc độ.………….. Chuyện vui Một người Scoland về thăm lại thành phố quê hương. Khi đi dạo công viên anh thấy tấm biển đề “Dẫm lên cỏ bị phạt 1 shilling”. Anh đến hỏi người cảnh sát gần đấy– Thưa ông, tại sao ngày nay lại giảm nhẹ tiền phạt như vậy. tôi nhớ ngày trước phạt những 3 cảnh sát trả lời– Hạ là phải, Phạt 3 shilling, chẳng ma nào nó dẫm lên cỏ, nhà nước bị thất thu, ông hiểu chứ?24. Nguyên tắc sử dụng trung gian Nội dung Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp. Nhận xét 1- Mới thoạt nhìn ta thấy không thuận lắm, vì trung gian, chuyển tiếp thường gây phiền phức, tốn thêm chi phí…. 20. Nguyên tắc liên tục tác động có ích- khuyên chúng ta cần khắc phục vận hành không tải, trung gian. Ở đây cần hiểu là do tính lịch sử – cụ thể của các kiến thức, giải pháp đã biết, không cho phép người ta giải quyết vấn đề một cách trực tiếp. Vậy không nên cầu toàn, chờ đợi, mà nên giải quyết thông qua các đối tượng trung gian, chuyển tiếp. Tuy nhiên, khi điều kiện cho phép thì trung gian loại này nên bỏ. Tự nhiên liên tưởng nếu hai người nào đó giận nhau thì người thứ ba làm trung gian lắng nghe, hoà giải sẽ rất có ích nhỉ. 2- Mặt khác, có những trường hợp, “trung gian” là sự đòi hỏi khách quan, thiếu nó hoạt động của hệ thống sẽ kém hiệu quả. Điều này liên quan đến quá trình phân công, chuyên môn hoá, ghép nối, sự cần thiết qui về một mối…. Ví dụ, tiền là hàng hoá trung gian, ta thử tưởng tượng không có tiền thì sự lưu thông trong kinh tế sẽ ra sao. Liên tưởng đến hệ thống phân phối bán lẻ cần các nhà bán buôn trung gian. 3- Nhờ trung gian mà người ta có thể tạo nên sự thống nhất các mặt đối lập, loại trừ nhau nhưng lại mang lợi ích cho con người, nếu xét riêng rẽ từng mặt đối lập. 4- Trong khi sử dụng, tìm kiếm “trung gian”, đặc biệt cần chú ý các nguồn dự trữ có sẵn trong hệ, đặc biệt là những nguồn trời cho không mất tiền. 5- “Trung gian” khách quan có thể cho thêm những tính chất, hiệu ứng mới, có những trường hợp, là dấu hiệu đánh giá mức phát triển. Ví dụ, các nước công nghiệp đều có hệ thống dịch vụ phát triển. Các ví dụ 1- Ổ cắm điện chuyển đổi từ dẹt sang tròn và ngược lại…..2- Các loại biến thế chất xúc tác hoá dịch vụ trong xã hội mang tính trung Trong tính toán toán học, có khi cần dùng số phức, hệ số nhị phân…..6- Tìm diệt những con vật trung gian truyền bệnh như chuột, muỗi…..7- Khi trình bày một vấn đề chuyên môn phức tạp, dùng những kiến thức hàng ngày gần gũi để minh hoạ……8- Trong xác định giấy tờ giả, giám định chữ ký rất khó, người ta sẽ giám định thông qua chữ viết dưới chữ ký.………. Chuyện vui Con nói với bố– Ba ơi, khi nào lớn lên con sẽ đi thám hiểm Nam Cực.– Giỏi lắm – ông bố khen động viên Nam Cực lạnh và ocn cần rèn luyệh để chịu được băng giá phải không bố?– Rất đúng – ông bố trả lời– Vậy thì từ nay, ngày nào ba cũng mua kem về cho con ăn Nguyên tắc tự phục vụ Nội dung a Đối tượng phải tự phục vụ bằng cách thực hiện các thao tác phụ trợ, sửa Sử dụng phế liệu, chát thải, năng lượng dư. Nhận xét 1- Để đối tượng, ngoài việc thực hiện chức năng chính, còn thực hiện thêm những chức năng phụ trợ, cần chú ý sử dụng các nguồn dự trữ có sẵn trong hệ, đặc biệt, những nguồn dự trữ trời cho không mất tiền như lực trọng trường, nhiệt độ môi trường , độ ẩm, không khí….2- Do sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt dần các nguồn cung cấp tự nhiên, vấn đề sử dụng phế liệu, chất thải năng lượng dư ngày càng được chú ý giải quyết và đây cũng là một loại nguồn dự trữ cần khai thác. Về mặt lý tưởng, cần có một chu trình sản xuất khép Nguyên tắc này hay được dùng với các nguyên tắc 2-nguyên tắc tách khỏi, 6- nguyên tắc vạn năng, 23- nguyên tắc quan hệ phản hồi…4- Nguyên tắc tự phục vụ phản ánh khuynh hướng phát triển đối tượng dần tiến đến tự động thực hiện công việc hoàn toàn, nói cách khác, vai trò tham gia của con người sẽ dần tiến tới không. Cao hơn nữa, khi các đối tượng nhân tạo được thay thế bằng các quá trình có sẵn trong tự nhiên thì “tự phục vụ” sẽ đạt được mức lý “Tự phục vụ” có nguyên nhân sâu xa là các mâu thuẫn bên trong quyết định sự phát triển và sự vận động là tự thân vận Tinh thần của nguyên tắc này đặc biệt có ý nghiã đối với việc giáo dục, đào tạo. Phải làm sao để có được những con người biết tự học, tự rèn luyện, tự giác hành động theo những qui luật phát triển của hiện thực khác quan…. Các ví dụ 1- Khi nhấc máy điện thoại bàn, lò xo bên trong máy đẩy lên nối công tắc, người gọi điện thoại có thể sử dụng được ngay. Ngược lại khi gác máy, lò xo bị nén xuống – ngắt Các ống hứng gió đặt trên mái nhà có phần giống như đuôi cá, giúp quay được ống khi gió đổi hướng, để làm sao ống luôn ở chế độ tối Loại vòi tưới rau hoặc tưới hoa, vừa phun nước vừa tự quay vòng tròn nên diện tích được tưới rất rộng và không cần có Autostop các loại. ví dụ, khi hết băng cassette, máy ghi âm tự động Sử dụng phân, rác làm khí Mô hình VAC Vườn-Ao-Chuồng.7- Các cửa hàng tự giác, các nhà ăn tự phục Hệ thống bơm cấp nước và ngắt tự động. Chuyện vui Có lần giáo sư toán học chấm thi ở Học viện địa chất Petecbua thời Nga Hoàng. Một sinh viên đến trả thi vấn đáp có họ là Euler, thuộc dòng dõi nhà bác học nổi tiếng thế giới Leonard Euler. Giáo sư đưa ra một đề thi, anh sinh viên không trả lời được. Giáo sư đưa ra một đề thi thứ hai, Euler không nói được câu nào. Cuối cùng, giáo sư đưa sổ điểm cho anh sinh viên và trầm giọng bảo-Anh Euler, anh hãy viết vào đây điểm 2 bằng chính tay của anh. Tay của tôi không nỡ làm điều đó đối với một người mang dòng họ nổi danh như Nguyên tắc sao chép copy Nội dung a Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi hoặc dễ vỡ, sử dụng bản Thay thế đối tượng hoặc hệ các đối tượng bằng bản sao quang học ảnh, hình vẽ với các tỷ lệ cần Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biểu kiến vùng ánh sáng nhìn thấy được bằng mắt thường, chuyển sang sử dụng các bản sao hồng ngoại hoặc tử ngoại. Nhận xét 1- Từ “sao chép” cần hiểu theo nghiã rộng phản ánh những cái chính của đối tượng, cần thiết cho việc giải bài toán, nếu như làm trực tiếp với đối tượng gặp khó khăn. Việc phản ánh đối tượng theo từng mặt, khiá cạnh, phương diện…rất có ích lợi trong việc đi tìm những cái tương tựgiữa những đối tượng khác nhau, thậm trí rất xa nhau. Mặt khác, đối tượng phản ánh chính là mô hình của đối tượng cho trước thường dễ “giải”, dễ nghiên cứu hơn. Mô hình hoá là cách tiếp cận hiệu quả khi giải các bài toán khó. 2- Đối tượng nhận được do sao chép, nhiều khi, có được thêm những tính chất mới mà trước đây đối tượng cũ không có như gọn, nhẹ, dễ bảo quản, lưu trữ…. 3- Nguyên tắc sao chép hay dùng với các thủ thuật 2-nguyên tắc tách khỏi, 17- nguyên tắc chuyển sang chiều khác, 24 nguyên tắc sử dụng trung gian, 27- nguyên tắc rẻ” thay cho “đắt”, 28-nguyên tắc thay thế sơ đồ cơ học, 32-nguyên tắc thay đổi màu sắc…… 4- Nếu thường xuyên sử dụng bản sao, mô hình của đối tượng cần chú ý đề phòng tính ì tâm lý coi mô hình chính là đối tượng thật, có trên thực tế, do vậy, có thể đi đến những kết luận chủ quan, duy ý chí. Các ví dụ 1- Các loại bản đồ, sơ đồ, hình vẽ, ảnh chụp, đồ thị….2- Các phép tương tự Các cách mô hình Sự bắt Đóng kịch, đóng Các cuộc điều tra xã hội học.……………. Chuyện vui về “Vua hề Sáclô” Thi xem ai bắt chước Sáclô giống nhất. Đương nhiên ở ngoài đời, Chaplin có tác phong bình thường, lịch thiệp. Nhưng ai đã xem phim hề Sáclô thì lại không thể nào quên được những động tác của vai hề thật lạ mắt và rất tức cười, ngẫm lại thấy không gặp ở đâu như thế. Người ta tổ chức cuộc thi xem ai bắt chước điệu bộ, nhất là cách đi đứng giống Sáclô nhất. Chaplin cải dạng đi dự thi cùng với gần 40 thí sinh khác và khi công bố kết quả, ông được xếp thứ 7 !!!.27. Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt” Nội dung Thay thế đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn thí dụ như về tuổi thọ. Nhận xét 1- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cần tìm đối tượng rẻ tiền thay cho đối tượng đắt tiền, ví dụ như dùng một lần để khỏi mất thời gian bảo trì sửa chữa. Đáp ứng được yêu cầu đông đảo của người tiêu dùng vừa túi tiền. Các nguyên vật liệu lấy từ tự nhiên ngày càng khan hiếm, khó tái tạo, vậy cần đưa ra những cái nhân tạo, gần tương đương, tránh tàn phá môi trường…. 2- “Rẻ” thay cho “đắt” có thêm được những tính chất mới như có thể sản xuất nhanh, nhiều, thay đổi mẫu mã, kiểu dáng nhanh chóng, bảo đảm các điều kiện vệ sinh, tránh lây lan bệnh tật vì chỉ dùng một lần…. 3- Về cách tiếp cận giải quyết vấn đề, nguyên tắc này đòi hỏi người giải không cứng nhắc, cầu toàn, chờ đợi điều kiện lý tưởng khi phải giải các bài toán khó. 4- Cần chú ý tới khả năng nâng chất lượng kèm theo hạ giá thành của đối tượng. Để làm được việc này cần khai thác các nguồn dự trữ có sẵn, đặc biệt những nguồn dự trữ trời cho không mất tiền. Các ví dụ 1- Khăn lau tay, lau mặt dùng một lần rồi Ly chén diã…bằng giấy hoặc nhựa rẻ tiền, dùng một lần, đảm bảo vệ sinh, dùng tại những nơi không có điều kiện rửa hoặc cần phải tiết kiệm thời Ống và kim tiêm bằng nhựa dùng một lần rồi bỏ, bảo đảm không lây truyền bệnh, như viêm gan B, HIV…..4- Các loại vật liệu, sản phẩm giả như giả da, giả đồi mồi, răng giả, hoa giả…..5- Khuynh hướng dùng nhựa thay cho kim Tàu, thuyền vỏ xi măng, lưới thép, composite…..7- Đùng cừ tràm thay cho đóng cọc bằng bê tông cốt Các cảnh giả, hiệu ứng hình ảnh dùng trong đóng phim, kịch…..9- Các thí nghiệm dùng súc vật thay người.…………. Chuyện vui Bà vợ của nhà bác học Einstein đi xem một ống kính viễn vọng khổng lồ, đặt trong đài thiên văn. Nhà thiên văn học đi theo bà, thuyết minh rằng, nhờ kính đắt tiền này mà người ta có thể nghiên cứu được vũ trụ. Bà vợ Einstein bỗng cắt lời ông ta– Chồng tôi cũng nghiên cứu kích thước và cấu trúc vũ trụ, nhưng ông ta thường làm điều đó trên mặt trái chiếc phong bì cũ nào Thay thế sơ đồ cơ học Nội dung a Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi Sử dụng điện trường, từ trường và điện từ trường trong tương tác với đối tượng .c Chuyển các trường đứng yên sang chuyển động, các trường cố định sang thay đổi theo thời gian, các trường đồng nhất sang có cấu trúc nhất Sử dụng các trường kết hợp với các hạt sắt từ. Nhận xét 1- Nguyên tắc này phản ánh khuynh hướng phát triển những gì trước đây và bây giờ còn là “cơ học” sẽ chuyển thành “không cơ học” dùng điện, từ, điện từ, ánh sáng…, và những trường mới sẽ mang tính chất “phẩm chất cục bộ”. Điều này sẽ làm tăng tính điều khiển và tăng tính hiệu quả của đối tượng vì có thể sử dụng những hiệu ứng ở mức vi mô. 2- Do vậy, có thể dùng “thay thế sơ đồ cơ học” để đặt bài toán, dự báo về sự phát triển của đối tượng cho trước. 3- Thủ thuật đòi hỏi người giải phải chú ý để có được những kiến thức cần thiết về các khoa học tương ứng và sử dụng các hiệu ứng thích hợp trong các bài toán của mình. Ở đây cần đặc biệt tận dụng những ưu điểm, những mặt mạnh mà sơ đồ cơ học không có được. Các thí dụ 1- Cần cẩu dùng móc và cần cẩu dùng nam châm đề khởi động xe gắn máy hay ô tô bằng điện thay cho đạp chân hay quay maniven có lẽ là quay tay?!3-Đồng hồ lên giây cót cơ học chuyển sang đồng hồ điện Bàn tính, máy tính quay tay cơ học chuyển sang máy tính điện, điện tử, quang-điện Cắt gọt kim loại bằng dao, cưa cơ học chuyển sang sử dụng tia lazer, trị bằng các loại tia thay cho dao chạy bằng bánh xe, bánh xích chuyển sang chạy trên đệm Ghi, đọc, lưu trữ dữ liệu bằng băng từ, lazer….9- Nút bấm điện thoại di động dùng phím được thay bằng cảm ứng – chạm tay lên màn hình.………. Chuyện vui Sách dạy nấu ăn có cái bất tiện là người nấu bếp phải vừa đọc, vừa lật trang, vừa làm. Ngày nay người ta sử dụng băng ghi âm. Khi cần nấu món nào, chỉ việc bấm nút là được hướng dẫn tỉ mỉ cách làm từng giai đoạn theo đúng thời gian nấu trên thực tế. Trong những giây phút chờ đợi, ví dụ đợi nước sôi chẳng hạn, người nấu được nghe những bản nhạc êm tai. Trong gia đình kia, người vợ mới cưới thường sử dụng cách này để nấu ăn. Tuy vậy nàng chưa bao giờ được chồng khen nấu ăn ngon cả. Một hôm đã hết kiên nhẫn, nàng nói với chồng– Anh phải khen em đi chứ, em nấu đúng bài bản như máy ghi âm chồng trả lời– Vậy hả, chắc cái máy ghi âm trục trặc kỹ thuật, em phải mang nó đi sửa ngay Sử dụng các kết cấu khí và lỏng Nội dung Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng nạp khí, nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực. Nhận xét 1- Xét về một khiá cạnh nào đấy, các kết cấu khí và lỏng có những ưu điểm hơn chất rắn như linh động, dễ điều khiển, môi trường xung quanh luôn có nhiều không khí và nước, dễ khai thác….. 2- Thủ thuật này đòi hỏi người giải phải có những kiến thức cần thiết về các chất khí và lỏng, vận dụng các hiệu ứng cần thiết, liên quan đến các chất khí và lỏng trong các bài toán của mình. 3- Ở mức độ nào đó, thủ thuật này cũng phản ánh khuynh hướng phát triển các kết cấu rắn bị thay thế bởi các kết cấu khí và lỏng. Do vậy trong khi giải các bài toán cần chú ý đến khả năng có thể thay thế và khắc phục tính ì tâm lý quen coi các đối tượng kỹ thuật làm từ vật liệu rắn. 4- Tinh thần chung của nguyên tắc này là thay thế cái cứng nhắc, gò bó, nặng nề bằng cái nhẹ, mềm dẻo, linh động. 5- Sử dụng được các kết cấu khí và lỏng, trên thực tế là khai thác những nguồn dự trữ có sẵn trong hệ và môi trường vì xung quanh chúng ta đâu cũng có nhiều khí và chất lỏng, ít ra, cũng dưới dạng không khí và nước các loại. 6- “Sử dụng các kết cấu khí và lỏng” hay được dùng với 7-nguyên tắc “chứa trong”, 8- nguyên tắc phản trọng lượng, 9- nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ, 11-nguyên tắc dự phòng, 15-nguyên tắc linh động, 21- nguyên tắc vượt nhanh, 25 -nguyên tắc tự phục vụ, 30- sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng, 32- Nguyên tắc thay đổi màu sắc… Các thí dụ 1- Dây cung, dây nỏ chuyển sang sử dụng bơm nén, súng hơi. 2- Các con thú đồ chơi, thay vì nhồi bông, rơm….người ta làm loại thú đồ chơi chỉ cần thổi lên. 3- Các loại ghế hơi, giường hơi, nệm hơi….. 4- Bánh xe dạng rắn chuyển sang dạng hơi, phao gỗ chuyển sang phao khí. 5- Các hệ thống đóng mở dùng khí nén nói chung hay các loại thiết bị dùng khí nén trong kỹ thuật. 6- Tàu, xe chạy trên đệm không khí. Chuyện vui Nhà khoa học Pháp Gay Luýtxăc cần có nhiều lọ thủy tinh mỏng, chất lượng đặc biệt để làm thí nghiệm. Ông phải đặt hàng ở nước Áo-Hung. Món hàng đến biên giới thì bị hải quan Áo đánh thuế rất nặng, ông không có đủ tiền trả nên thùng thuỷ tinh đưa trả về nhà máy. Nhà bác học Đức là Alexanđơ nghĩ ra cách đóng gói các lọ thuỷ tinh cẩn thận vào thùng gỗ và dán nhãn “không khí Đức, cẩn thận, nhẹ tay!” Các nhân viên hải quan không tìm ra chương mục nào nói “không khí Đức” phải nộp thuế nên cho thông quan mà không thu Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng Nội dung a Sử dụng các vỏ dẻo và màng mỏng thay cho các kết cấu Cách ly đối tượng với môi trường bên ngoài bằng các vỏ dẻo và màng mỏng. Nhận xét 1- Thủ thuật này liên quan đến bề mặt, lớp ngăn cách đối tượng, tại đó có những yêu cầu mà kết cấu khối không đáp ứng được hoặc đáp ứng nhưng với mức độ hiệu quả không lớn. Vỏ dẻo và màng mỏng có nhiều ưu điểm như nhẹ, linh động, chiếm ít không gian, có chức năng bảo vệ tốt, cho phép đối tượng có những bề mặt đa dạng về trang trí, mỹ thuật, tiết kiệm nguyên vật liệu…. 2- Màng mỏng không đơn thuần là chuyển từ mô hình ba chiều thành hai chiều, cần chú ý “lượng đổi, chất đổi” xuất hiện những hiệu ứng mới, đặc thù riêng cho màng mỏng đặc biệt ở mức vi mô 3- “sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng” hay dùng với các thủ thuật như 2-nguyên tắc tách khỏi, 3- nguyên tắc phẩm chất cục bộ, 11- nguyên tắc dự phòng, 27- nguyên tắc rẻ thay cho đắt, 29 -sử dụng kết cầu khí và lỏng, 31 -sử dụng các vật liệu nhiều lỗ, 32- Nguyên tắc thay đổi màu sắc… 4- Vật liệu hay dùng để chế tạo vỏ dẻo và màng mỏng thường là nhựa, cao su nhưng thật ra màng mỏng có thể được chế tạo từ bất kỳ vật liệu nào, nếu có sự cần thiết. Các ví dụ 1- Các loại bao bì, túi nylong, áo đi mưa, khăn trải bàn nilong……2- Bià sách, lịch treo tường có phủ lớp nhựa mỏng bảo vệ tăng độ bền, ép plastic……3- Ống nhựa dẻo các Lớp nhôm, bạc…… phủ làm Điện tử học hiện đại với các mạch tổ hợp, trên thực tế là điện tử học màng Các đồ dùng gia đình bằng Các chất hoá học phun tạo màng…trong nông nghiệp, công nghiệp…… Chuyện vui Một chàng nọ về thủ đô chơi, anh khệ nệ bước lên xe với một bao tải to làm bằng chất dẻo và đặt xuống sàn. Người bán vé tới gần và bảo anh mua vé– Vé người 3000, vé hành lý thấy thế, anh chàng đá mạnh vào bao tải và nói– Thôi chui ra đi em, không dè hành lý lại đắt gấp đôi vé Sử dụng các vật liệu nhiều lỗ Nội dung a Làm đối tượng có nhiều lỗ hoặc sử dụng thêm những chi tiết có nhiều lỗ miếng đệm, tấm phủ..b Nếu đối tượng đã có nhiều lỗ, sơ bộ tẩm nó bằng chất nào đó. Nhận xét 1- Vật liệu nhiều lỗ có nhiều ưu điểm như nhẹ, cách nhiệt, cách âm tốt, tiết kiệm nguyên vật liệu, có thể dùng làm những thiết bị lọc, có tổng diện tích nhỏ nhưng tổng diện tích các lỗ rất lớn….. 2- “Nhiều lỗ” cần hiểu theo nghiã rộng như chất rắn, dẻo, lỏng có nhiều khoảng trống nhỏ bên trong; thể tích, vỏ dẻo, màng mỏng…có nhiều lỗ. 3- Nếu kích thước các lỗ đủ bé, cần chú ý đến những hiệu ứng mới có thể này sinh, thậm trí những hiệu ứng chỉ có ở mức vi mô 4- Các lỗ trống thường chứa không khí nên thủ thuật này nhắc sử dụng nguồn dự trữ dễ kiếm từ môi trường xung quanh. 5- Việc tẩm các lỗ bằng những chất khác nhau có thể cho sự thống nhất mới giữa các mặt đối lập, rất cần thiết để giải quyết các mâu thuẫn, có trong bài toán cần giải. 6- Thủ thuật này hay dùng với các thủ thuật 2 nguyên tắc tách khỏi, 3 nguyên tắc phẩm chất cục bộ, 5 nguyên tắc kết hợp, 7 nguyên tắc chứa trong, 30 sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng, 34 nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần…. Các thí dụ 1- Các loại bao bì, phương tiện đóng gói làm từ vật liệu Các tấm mút, đệm mút…..3- Các vách ngăn dùng cách âm, cách Bút dạ5- Dây cáp điện thoại có vỏ bọc xốp, tạo lớp không khí cách điện lý tưởng6- Tấm lót sàn nhà tắm nhiều lỗ vừa tạo ma sát tránh trơn trượt nhưng dễ thoát nước.……………. Chuyện vui Chủ nhà nói to vào ống điện thoại– A lô công ty sửa chữa nhà đấy phải không? Bao giờ các ông đến sửa cho chúng tôi? Mái nhà chúng tôi bị thủng nhiểu lỗ, mưa dột ngập đầy nước đây nè. Tôi đã nhắc các ông nhiều lần nhưng không thấy ai đến cả. Hãy nói cho tôi biết, khi nào thì nhà tôi có thể khô ráo được?Trả lời– Xin ông gọi điện theo số sau 53789– Thủ trưởng của ông phải hkông?– Không, đấy là Nha Khí Nguyên tắc thay đổi màu sắc Nội dung a Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoàib Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng các chất phụ gia màu, hùynh Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh Sử dụng các hình vẽ, ký hiệu thích hợp. Nhận xét 1- Từ “trong suốt” cần được hiểu theo nghiã rộng, không chỉ riêng cho vùng biểu Trong năm giác quan của con người, thị giác phát triển và đóng vai trò quan trọng nhất hơn 90% thông tin nhận được từ thế giớ bên ngoài và qua con đường thị giác. Nguyên tắc này, xét về mặt quan hệ với con người, liên quan đến bộ môn ”Tâm lý học kỹ thuật” Xem phần nhận xét của thủ thuật 19. nguyên tắc tác động theo chu kỳ.3- Màu sắc có nhiều, do đó cần tránh thói quen chỉ sử dụng một loại màu nào đó. Cần qui ước mỗi loại màu tương ứng với cái gì, trên cơ sở đó dễ bao quát, xử lý thông tin Các hình vẽ, ký hiệu thích hợp rất có tác dụng, giúp cho suy nghĩ thoáng, thấy được các mối liên hệ giữa các bộ phận. Nếu có thể, nên vẽ sơ đồ khối, chúng giúp không chỉ thấy cây mà còn thấy Nguyên tắc này còn liên quan đến những kiến thức về các hiện tượng phát quang, gây ra bởi các cách kích thích khác nhau. Cho nên cần chú ý đến những hiệu ứng thuộc loại tắc thay đổi màu sắc hay sử dụng với các thủ thuật như tắc tách khỏi, tắc phẩm chất cục bộ, tắc thực hiện sơ bộ, 26 nguyên tắc sao chép copy…. Các ví dụ 1- Băng keo trong suốt, dán trang sách bị rách mà vẫn đọc Các vật chứa trong suốt có thể nhìn thấy chất đựng bên Các phòng làm việc có các bức tường trong suốt tiện lợi cho việc quan sát, bảo đảm tính công Các chai lọ thuỷ tinh có những màu sắc khác nhau, thích hợp cho việc phân loại, bảo quản những chất đựng bên Các màu sắc ký hiệu qui ước trong giao thông như đèn đỏ thì dừng, đèn xanh thì đi…hình đầu lâu xương chéo- coi chừng nguy Trong các nhà máy lớn, những người làm công việc khác nhau mặc những bộ quần áo, màu sắc, kiểu dáng, phù hiệu khác nhau, để dễ theo dõi, kiểm tra chức năng, công Bảng hiệu dùng sơn phát quang dễ nhìn trong bóng Sử dụng các loại giấy với màu sắc khác nhau để qui ước tính chất công việc và để dễ kiểm tra, kiểm Sử dụng màu sắc cho việc phân loại nhận diện….. Chuyện vuiA nói với B– Mình không hiểu, tại sao một người nghèo tốt bụng, tử tế với mọi người xung quanh, nhưng khi trở nên giàu có, lập tức anh ta khinh khỉnh như chẳng nhìn thấy ai. Chẳng lẽ tiền bạc làm người ta thay đổi nhanh mỉm cười nóiCậu hãy lại gần cửa sổ, nhìn qua lớp kính xem thấy những gì?A- Ồ thấy mọi thứ trên đời người, xe cộ, nhà cửa, cây cối…..tất cả đếu sống động, muôn màu, muôn Còn bây giờ cậu lại tấm gương soi, cậu thấy gì trong đó?A Thấy có mỗi một mình Vậy là đúng rồi. Cũng là kính nhưng chỉ cần phủ lên một lớp bạc thì mọi sự đã thay đổi, huống gì con Nguyên tắc đồng nhất Nội dung Những đối tượng, tương tác với đối tượng cho trước, phải được làm từ cùng một vật liệu hoặc từ vật liệu gần về các tính chất với vật liệu chế tạo đối tượng cho trước. Nhận xét 1- Từ “đồng nhất” cần hiểu theo nghiã rộng, không đơn thuần đồng nhất về mặt vật liệu, như nghiã đen của thủ thuật. Tinh thần cùa thủ thuật này có thể hiểu là, phải làm sao bảo đảm và tăng tính tương hợp giữa những đối tượng, tương tác với đối tượng cho trước. Sự tương hợp này thể hiện ở nhiều mặt, không riêng gì về vật Tinh thần “tương hợp” có tính định hướng rất cao trong việc đánh giá, đặt bài toán và dự báo các bước phát triển tiếp theo của đối tượng, nhất là khi đối tượng chuyển lên phát triển ở mức hệ Sự tương hợp, trên thực tế, là sự thống nhất mới của các mặt đối lập, cho phép đối tượng hoạt động một cách có hiệu quả hơn Để tạo sự tương hợp, trước hết cần chú ý khai thác những nguồn dự trữ có sẵn trong đối tượng, đặc biệt những nguồn dự trữ trời cho không mất tiền. Các thí dụ 1- Các loại keo làm từ cao su để dán cao su, tương tự như vậy, nhựa để hàn nhựa…..2- Phải chọn cùng nhóm máu mới truyền Các loại xe cần có thời gian chạy rôđa để các chi tiết mòn đều, khớp với loài vật sống trong môi trường có màu sắc như thế nào thì thường có màu lông, da như Khi thay dây xích, người ta thay luôn bánh xích để bảo đảm sự tương Khi tìm hiểu, lấy lòng đối tượng nào, phải đồng nhất hoàn cảnh, suy nghĩ với đối tượng đó. “Đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy.”……… Chuyện vui Hai vợ chồng nhà kia thường hay cãi nhau. Một lần trong cơn giận dữ bà vợ hét lên– Thà lấy quỉ sứ làm chồng còn hơn là lấy anh!Ông chồng bình thản đáp lại– Không được đâu em ạ. Luật pháp cấm việc kết hôn giữa hai người cùng một dòng họ Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần Nội dung a Phần đối tượng đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc trở nên không cần thiết phải tự phân hủy hoà tan, bay hơi.. hoặc phải biến Các phần mất mát của đối tượng phải được phục hồi trực tiếp trong quá trình làm việc. Nhận xét 1- Nguyên tắc này là trường hợp đặc biệt của hai nguyên tắc 15. nguyên tắc linh động, tắc liên tục tác động có ích khi không còn có ích nữa thì phải linh động biến mất, ngược lại khi cần có tác động có ích thì phải linh động xuất hiện. Như vậy mới thật tối Với tinh thần trên, “Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần” có tính định hướng cao đưa hệ đối tượng về phiá tăng mức độ lý tưởng. Do vậy nguyên tắc này rất có ích trong việc đánh giá, đặt bài toán và dự báo khuynh hướng phát triển của đối tượng….3- Cần chú ý tránh tạo ra những tiền lệ khó bỏ, mặc dù đối tượng không còn đóng vai trò gì có ích nữa, nhưng vẫn phải mất chi phí duy trì, bảo quản, chiếm những không gian không cần thiết…. Muốn vậy, cần phải nhìn trước, nghĩ trước, bao quát cả quá trình và những hậu quả có thể Nguyên tắc này hay dùng với các thủ thuật như tắc tách khỏi”, tắc phẩm chất cục bộ, 9 nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ. 10. nguyên tắc thực hiện sơ bộ, 11 nguyên tắc dự phòng, 25 nguyên trắc tự phục vụ, 35. Thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng, 36. Sử dụng chuyển pha…..5- Để thực hiện việc phân hủy hoặc tái sinh , cần chú ý khai thác các nguồn dự trữ có sẵn trong hệ, đặc biệt những nguồn không mất tiền. Các thí dụ 1- Giấy vệ sinh tự hủy, các loại bao bì tự huỷ mà ko làm hại môi Chỉ khâu tự tiêu dùng trong phẫu lửa nhiều tầng, dùng xong phần nào, vứt bỏ tầng máy bay khi tham chiến, vứt bỏ các thùng dầu phụ cho Loại dao tiện gồm nhiều lớp kim loại có độ cứng khác nhau để khi làm việc có độ mòn giống nhau. Kết quả, góc nhọn của lưỡi dao luôn luôn được tái tạo trong quá trình làm việc, do vậy, không cần phải mài lại nên lưỡi dao có thể dùng liên tục.……………. Chuyện vui Một người Scotland đem lúa mì từ làng ra tỉnh bán. Công việc xong xuôi, anh ra bưu điện, thảo bức điện gửi về cho vợ “Bán hết, lãi nhiều, mai về, hôn em”. Trước khi trao cho nhân viên bưu điện gửi đi, anh ta nghĩ lại “cần gì phải đề là bán hết vì vợ mình biết tất nhiên sẽ bán hết, chứ đem về làm gì”. Anh ta gạch bỏ chữ “bán hết”. Anh ta đọc lại và tự nhủ “Ở nhà biết rõ, một khi mình đi bán, lãi nhiều là cái chắc”. Anh xoá chữ “lãi nhiều”. Suy nghĩ một lúc, anh thấy không cần phải để từ “mai về”, vì đã bán xong thì phải về chứ ở lại làm gì cho tốn tiền. Nhưng đánh có mỗi chữ “hôn em”, lỡ bà xã hiểu lầm, mình ra thành phố, làm điều gì không phải, nên “nịch đầm” đột ngột thì thêm phiền. Anh gật gù, vò tờ điện vứt vào sọt rác, lững thững đi ra, vẻ mặt rất hài Thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng Nội dung a Thay đổi trạng thái đối Thay đổi nồng độ hay độ đậm Thay đổi độ dẻod Thay đổi nhiệt độ, thể tích. Nhận xét 1- “Trạng thái” cần hiểu theo nghiã rộng, không nhất thiết chỉ có rắn, khí, lòng, Khi thay đổi thông số, cần chú ý lượng đổi, chất đổi” để có được những tính chất mới mà trước đây, đối tượng chưa Cần khắc phục tính ì tâm lý, quen nhìn đối tượng chỉ một trạng thái nào đó hay bắt Việc sử dụng các trạng thái khác nhau của đối tượng chính là sự thể hiện cụ thể của “khai thác các nguồn dự trữ có sẵn trong đối tượng”.5- Người giải có thể áp dụng tinh thần của nguyên tắc này vào chính bản thân mình để có thể chủ động thay đổi các trạng thái tâm lý cho thích hợp với các tình huống, công việc…mà mình phải làm. Nói cách khác, rèn luyện để tự điều chỉnh mình. Các thí dụ 1- Để giữ thực phẩm tươi lâu, không hỏng, người ta làm đông lạnh Cũng với mục đích như vậy, người ta phơi khô hoặc ướp Để dễ rèn, người ta nung sắt nóng Để uốn gỗ, mây tre nứa, người ta đốt nóng Trong kỹ thuật, việc làm lạnh sâu có thể mang lại những tính chất mới cho đối tượng. Dây đàn vĩ cầm ngâm trong ni tơ lỏng vài tiếng đồng hồ có âm thanh tốt hơn, có thể sử dụng lâu hơn mà không phải lên dây đàn lại. Banh đánh golf ngâm ni tơ lỏng có thể bay xa hơn banh thường 20-30 mét.…………. Chuyện vui Viên đại tá nói với hạ sĩ, hộ vệ mình-nếu anh chịu bỏ rượu, tôi sẽ cho anh lên chức trung hạ sĩ trả lời– Tôi không thích như vậy thưa đại tá.– Sao thế? Viên đại tá hỏi.– Vì khi tôi uống rượu, tôi thấy mình là đại Sử dụng chuyển pha Nội dung Sử dụng các hiện tượng nảy sinh trong quá trình chuyển pha như thay đổi thể tích, toả hay hấp thu nhiệt lượng… Nhận xét 1- Từ “pha” cần hiểu nghiã rộng như “trạng thái” trong thủ thuật 35. Thay đổi các thông số hoá lý của đối Nguyên tắc này khác với nguyên tắc 35 ở chỗ, không sử dụng hoặc “pha” này hoặc “pha” kia, mà sử dụng những hiệu ứng nảy sinh chính vào lúc chuyển pha, thường là những hiệu ứng mang tính nhảy Ở đây, người giải cần có những kiến thức về quá trình chuyển pha cùng các hiệu ứng để có thể dùng chúng trong lời giải bài toán của mình một cách có ích lợi nhất4- “Sử dụng chuyển pha” cũng là một cách cụ thể hoá việc ” sử dụng những nguồn dự trữ có sẵn trong đối tượng”.5- Tinh thần của nguyên tắc này đòi hỏi người giải phải khắc phục tính ì tâm lý, quen nhìn đối tượng ở dạng “trạng thái cân bằng” mà không để ý những gì nảy sinh trong các quá trình chuyển trạng thái, “thời kỳ quá độ”. Bản thân quá trình chuyển trạng thái là quá trình phức tạp với những qui luật đặc thù của nó mà trong khuôn khổ của topic này, người viết không đi vào chi Đối với người giải, trong quá trình rèn luyện để làm chủ mình, cần có sự chú ý xứng đáng đến những “hiệu ứng” nảy sinh do chuyển trạng thái mà có. Những hiệu ứng này có thể “dương” mà cũng có thể “âm”. “Dương” thì cần phát huy khai thác, “âm” cần có biện pháp hạn chế, khắc phục. Các thí dụ 1- Người ta thường cho nước đá vào các đồ uống giải khát để làm mát chúng. Ở đây sử dụng hiện tượng hấp thu nhiệt lượng khi nước chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái Từ pha lỏng chuyển sang pha khí nhờ đốt cháy hay đun nóng, thể tích của đối tượng tăng lên nhiều lần, có thể dùng để thực hiện công cơ học. Đây là nguyên tắc của các động cơ như máy hơi nước, động cơ đốt trong, động cơ phản Trước đây người ta chế tạo lưỡng kim bằng phương pháp đúc, tráng và cán. Sau này người ta chuyển sang phương phápghép các vật liệu bằng cách tạo ra các vụ nổ trong khuôn kín để có thể nhận được các vật liệu nhiều lớp, có độ dày mong muốn.…….. Chuyện vui “Về người chết, hoặc không nói gì cả, hoặc chỉ nói những điều tốt”. Nhiều người coi đấy là cách cư xử hợp lý, nhất là đối với người mới mất. Nhà phê bình âm nhạc Đức, Munne viết nhiều bài báo phê bình nhà soạn nhạc Vebe, đôi khi quá đáng. Một hôm, Vebe bỏ nhà lên núi cao và từ đó gửi về các báo đăng …….bản cáo phó, rằng mình đã chết. Tiếp theo tin buồn, tờ báo còn đăng một bài viết thương tiếc “cái chết đột ngột” của Vebe. Người viết nhận xét về Vebe với những lời ca ngợi như “Một nhà soạn nhạc vĩ đại của nước Đức đã qua đời…một nhạc sĩ tài hoa nhất…một người thầy của các nhà soạn nhạc Đức…” Tác giả bài viết không ai khác mà chính là Munne. Sau đó mấy hôm, Vebe gửi một bức thư, cải chính tin nhạc sĩ chết là nhầm lẫn và ông quay về nhà. Từ đó về sau, Munne chỉ viết bài khen Sử dụng sự nở nhiệt Nội dung a Sử dụng sự nở hay co nhiệt của các vật Nếu đã dùng sự nở nhiệt, sử dụng với vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác nhau. Nhận xét 1- Nguyên tắc này liên quan đến việc sử dụng các kiến thức, cụ thể, liên quan đến những hiệu ứng nở hay co nhiệt của các vật liệu. Do vậy, người giải cần chú ý “nắm” những kiến thức cần thiết để có thể sử dụng chúng trong quá trình giải các bài toán của mình các hiệu ứng nói riêng, các kiến thức nói chung đều có tác dụng giải quyết những mâu thuẫn có trong bài Tuy “nhiệt học” là bộ môn khoa học tương đối cổ nhưng với thời gian nó vẫn phát hiện thêm những hiệu ứng mới, bất ngờ, có nhiều tính chất thú vị, có thể áp dụng trong các sáng chế, ví dụ, hiệu ứng “trí nhớ” của kim loại…..3- Cần chú ý khai thác các nguồn tạo nhiệt hoặc hấp thu nhiệt có sẵn trong môi trường xung quanh như ánh sáng mặt trời, nhiệt độ môi trường…..4- Sự nở hay co nhiệt tạo nên sự thống nhất mới giữa các mặt đối lập như ngắn và dài, thẳng và cong, nóng và lạnh……5- Ngoài ra, thủ thuật này còn khuyên người giải sử dụng kết hợp những vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác nhau. Việc kết hợp này có thể làm tăng hiệu quả hoặc có được những tính chất mới. Các thí dụ 1- Các loại nhiệt kế sử dụng hiệu ứng nở Để tạo chân không trong ống giác, người ta hơ nóng để không khí bên trong nở ra, thoát bớt ra ngoài. Sau đó, người ta áp sát vào đối tượng. Khi ống giác nguội, phần còn lại của không khí trong ống giác co lại, áp suất giảm, tạo nên lực Đèn kéo quân chuyển động được nhờ đốt nóng không khí và có sự đối Quả bóng bàn bị móp méo, để làm tròn lại có thể cho vào nước Còi báo hiệu nước sôi gắn trên nắp ấm đun nước6- Các loại rờ-le đóng ngắt mạch điện nhờ vào sự giãn nở của tấm kim loại lưỡng kim….. Chuyện vui Cô dâu mới về nhà chồng. Trước đây, ở nhà bố mẹ đẻ cô chưa bao giờ phải làm bếp cả. Mẹ chồng bảo cô luộc rau muống. Cô đổ cả rổ rau vào nồi, lúc vớt ra thì chỉ còn một diã. Sợ mẹ chồng nghĩ mình ăn vụng, cô sợ quá ôm mặt khóc. Mẹ chồng biết chuyện, giải thích cho cô biết rau bị ngót khi đun khác, mẹ chồng sai cô luộc năm quả trứng, luộc chín còn nguyên 5 quả, thấy lạ cô liền ăn hết hai quả. Lúc mở mâm cơm thấy có ba quả trứng, mẹ chồng hỏi-Sao luộc năm quả lại còn lại ba?Cô ấp úng trả lờiThưa mẹ, trứng luộc bị ngót đi đấy Sử dụng các chất ôxy hoá mạnh Nội dung a Thay không khí thường bằng không khí giàu Thay không khí giàu ôxy bằng chính Dùng các bức xạ ion hoá tác động lên không khí hoặc Thay ôxy giàu ôzôn hoặc ôxy bị ion hoá bằng chính ôzôn. Nhận xét 1- Ôxy rất cần cho sự cháy, nổ, thực hiện các phản ứng cần thiết, cho sự sống, thường được dùng để 1- Làm các quá trình xảy ra nhanh hơn, 2- tạo các lớp ôxít bảo vệ, 3- Cải tạo môi trường bị ô nhiễm, 4- chống các vi trùng kị khí. Hàng năm, riêng các nước phát triển sử dụng tới hơn 50 tỷ mét khối ôxy, gần một nửa là dùng trong luyện kim. 2- Ôxy có trong không khí, trong nước. Do vậy, thủ thuật này cũng mang tính nhắc nhở sử dụng những nguồn dự trữ có sẵn trong môi trường. 3- Chú ý sự tăng “nhịp độ” trong việc sử dụng ôxy không khí – không khí giàu ôxy – ôxy bị ion hoá- ôzôn. Tinh thần của nhịp độ này, trong nhiều trường hợp, cũng cần áp dụng cho các loại tác động khác. Ở đây có sự chú ý tăng về chất chứ không phải tăng về lượng. Thí dụ 1- Các bình nén chứa ôxy dùng cho cắt hàn kim loại, dùng cho y Người Nga đã thí nghiệm thấy rằng, nếu cho heo uống loại nước ga đặc biệt hỗn hợp nước và ôxy hoà tan thì chúng tăng trọng một cách đáng kể.Các ví dụ khác quá chuyên sâu về kỹ thuật công nghiệp nên xin không nêu ra tại đây Chuyện vui Một diễn giả nói chuyện về lịch sử phát minh ra nguyên tố ôxy. Ông nói– Thưa các quí vị, khí ôxy mà chúng ta rất cần để thở, không có nó chúng ta sẽ chết, mãi đến thế kỷ 18 mới được phát hiện người nghe quá đỗi ngạc nhiên đứng bật dậy hỏiThưa diễn giả đáng kính, thế trước đó người ta thở bằng gì ạ?39. Thay đổi độ trơNội dung a Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung Đưa thêm vào đối tượng các phần , các chất , phụ gia trung Thực hiện quá trình trong chân không. Nhận xét 1- Thủ thuật này có phần ngược với 38. sử dụng các chất ôxy hoá mạnh, được sử dụng để tránh nhũng quá trình ôxy hoá không mong Ngoài ra, trong thủ thuật còn có ý sử dụng các chất phụ gia chất độn, không làm ảnh hưởng xấu, ngược lại bổ sung thêm cho hoạt động của đối tượng. Sử dụng các chất phụ gia thích hợp, người giải có thêm được những tính chất mới, so với việc không dùng chất phụ Môi trường chân không là môi trường có nhiều ưu điểm như rất sạch, cách nhiệt, cách điện rất tốt, tạo được lực hút mạnh…..4- Thủ thuật, phần nào, cũng cụ thể hoá việc xem xét khả năng và sử dụng các nguồn dự trữ có sẵn để giải bài “Thay đổi độ trơ” có thể dùng để giải quyết các mâu thuẫn như ít mà nhiều, nhỏ mà lớn… Thí dụ 1- Các loại bóng đèn được hút chân không hoặc được bơm các khí Các loại bình có hai thành, giữa hút chân không, dùng đựng nước sôi hay giữ các chất lạnh.\3- Các cái giác hút dạng phễu, dùng gắn lên kính hay gạch men……4- Các biến thế điện ngâm trong môi trường Các loại thuốc, ở đó, với mục đích bảo quản tốt, người ta thay không khí thường bằng CO26- Các chất và các cách kìm hãm sự ăn mòn của kim loại trong công nghiệp7- Ống hút chân không dạng ống tiêm dùng cho các nhà thám hiểm, hút chất độc nơi vết thương khi bị côn trùng, rắn độc…..cắn.………… Chuyện vui Vợ nói với chồng– Anh bảo em nên lựa chọn chiếc mặt nạ nào để đi dự hội hoá trang mà không ai đoán được đấy là thôi! Em chỉ cần không đội tóc giả, không son phấn, không vẽ mắt, không mang lông mi giả, cứ để trơ như thế là chắc không ai nhận ra được 40. Sử dụng các vật liệu hợp thành composite Nội dung Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành composite. Hay nói chung, sử dụng các vật liệu mới. Giải thích Vật liệu hợp thành composite, là loại vật liệu gồm nhiều thành phần cấu tạo nên, có những tính chất mới mà không thể qui những tính chất đó thành những tính chất của từng thành phần riêng rẽ. Nhận xét 1- Hướng nghiên cứu, chế tạo các loại vật liệu mới, có những tính chất độc đáo, thoả mãn các nhu cầu phát triển luôn mang tính thời sự. Các vật liệu hợp thành, do tạo được tính hệ thống, càng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật và đời sống. 2- Tinh thần chung của nguyên tắc này là chú ý đến tính hệ thống tính chất không thể qui về thành tính chất của từng thành phần riêng rẽ và tính mặt khai thác những nguồn dự trữ có sẵn, bằng cách thay đổi sắp xếp, tổ chức nhằm đạt được những tính chất mới, mặt khác, luôn chú ý đến sự đổi mới vì “những gì đang hoạt động có nghiã là lạc hậu”, ở đây có sự chi phối của qui luật “phủ định của phủ định”. 3- Thủ thuật này hay dùng với tắc phân nhỏ, 3. nguyên tắc phẩm chất cục bộ, 5. nguyên tắc kết hợp, tắc vạn năng, tắc thực hiện sơ bộ, 25 nguyên tắc tự phục vụ, tắc “rẻ” thay cho “đắt”, 31. sử dụng vật liệu nhiểu lỗ…. Các thí dụ 1- Nhựa có cốt là sợi cacbon được dùng làm vỏ các động cơ phản lực, các cánh quạt của máy bay trực thăng vì chúng có độ bền cao. Robot có cánh tay máy dùng lắp ráp đồ điện tử, làm từ các loại polime có cốt cacbon, làm việc nhanh hơn, robot nhẹ hơn so với các robot có cánh tay làm bằng kim loại. 2- Vật liệu trên còn làm gậy trượt tuyết vì bền và nhẹ hơn so với gậy nhôm, gậy trúc. Sào nhảy cao cũng vậy. 3- Nhựa có cốt là sợi thuỷ tinh dùng chế tạo thân tàu ngầm 5 chổ ngồi ở Anh. Đây là tàu ngầm nhẹ nhất, chống ăn mòn cao, cơ động nhanh.…………… Chuyện vui Một người đến gặp Edison, đề nghị ông giúp đỡ chế tạo một loại dung môi, có thể hoà tan bất kỳ chất hỏi-Thế anh định đựng dung môi bằng gì?Người kia không trả lời được và lặng lẽ rút lui. Có lẽ lúc đó người ta chưa nghĩ đến vật liệu composite?!TÌM HIỂU THÊM VỀ TRIZ VÀ ARIZLÝ THUYẾT GIẢI CÁC BÀI TOÁN SÁNG CHẾ viết tắt theo tiếng Nga đọc là TRIZ là phương pháp luận tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật mới, cho những kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khác nhau, thích hợp cho việc dạy và học với đông đảo quần chúng. Tác giả của TRIZ – bắt đầu nghiên cứu, xây dựng lý thuyết từ 1946. Tiền đề cơ bản của TRIZ là các hệ kỹ thuật phát triển tuân theo các quy luật khách quan, nhận thức được. Chúng được phát hiện và sử dụng để giải một cách có ý thức những bài toán sáng chế. TRIZ được xây dựng như là một khoa học chính xác, có lĩnh vực nghiên cứu riêng, các phương pháp riêng, ngôn ngữ riêng, các công cụ riêng. Hạt nhân của TRIZ là ALGORIT GIẢI CÁC BÀI TOÁN SÁNG CHẾ viết tắt theo tiếng Nga là ARIZ.ARIZ là một chương trình các hành động tư duy có định hướng, được kế hoạch hóa. Nó có mục đích tổ chức hợp lý và làm tích cực hóa tư duy sáng tạo, bước đầu tạo cơ sở cho lý thuyết chung về tư duy định hướng. ARIZ có tính logic và linh động. Về mặt logic, ARIZ có tác dụng phân nhỏ bài toán sáng chế thành từng phần, vừa sức với người giải bình thường. Về mặt linh động, nó khai thác tới mức lớn nhất mặt mạnh của từng người giải như kiến thức, kinh nghiệm, trí tưởng tượng, linh tính… và hạn chế mặt yếu như tính ỳ tâm lý, sự phân tán trong suy nghĩ. Lợi ích của ARIZ nói chung là nâng cao hiệu suất tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề và ra quyết nghĩa của TRIZ và ARIZ là ở chỗ xây dựng tư duy định hướng nhằm đi đến lời giải bằng con đương ngắn nhất dựa trên các quy luật phát triển các hệ kỹ thuật và sử dụng chương trình tuần tự các bước, có kết hợp một cách hợp lý 4 yếu tố tâm lý, logic, kiến thức và trí tưởng tượng. TRIZ được dùng kết hợp với những phương pháp kinh tế-tổ chức như phương pháp phân tích giá thành-chức năng, gọi tắt là FSA tạo nên công cụ tổng hợp và có hiệu lực mạnh mẽ tác động tốt đến sự phát triển công thế giới có nhiều trường Đại học và Công ty dạy và học tư duy sáng tạo với mục đích đào tạo những người biết sáng tạo một cách hiệu quả. Ở VN, các sáng kiến, cải tiến, sáng chế còn mang tính tự phát, bị động và thiếu cơ sở về mặt phương pháp luận. Một trong những nguyên nhân của tình hình này là do phương pháp luận sáng tạo chưa được chú ý đúng mức trong suốt quá trình giáo dục và đào tạo. Khoa học về sáng tạo đã đúc kết được nhiều thành tựu, có thể sử dụng chúng ngay như các công cụ mạnh mẽ. Suy nghĩ theo kiểu mò mẫm, “Thử và Sai” trong lúc đã có sẵn các phương pháp khoa học, hữu ích cho tư duy sáng tạo là sự lãng phí lớn. Trên thực tế, suy nghĩ và làm việc thiếu phương pháp khoa học đang là hiện tượng phổ biến, đang là lỗ hổng lớn cần khắc phụcChuyện vuiVì sao thành công Một anh chàng trẻ tuổi vào phỏng vấn sếp của anh ta.– Hãy nói cho tôi biết làm sao mà chị thành công đến thế? – Anh ta hỏi sếp.– Ba chữ, sếp đáp.– Là gì vậy?– Quyết định chàng kia lại hỏi– Làm sao sếp ra được quyết định đúng?– Hai chữ – “kinh nghiệm”.– Và làm thế nào sếp có kinh nghiệm?– Ba chữ, sếp đáp.– Là gì vậy?– Quyết định sai. ĐỀ TÀI VAI TRÒ CỦA LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG TIẾPNHẬN VĂN HỌC___*****___MỞ ĐẦUĐất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế. Xu hướng toàn cầu hóathể hiện trong nhiều phương diện đời sống xã hội trong đó có giáo dục. Nhiều quốcgia trên thế giới đã đặt ra vấn đề giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phương phápgiáo dục vì vậy cũng phải đổi mới cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, trongđó đặc biệt phải luôn phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạocủa người quá trình giảng dạy nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, vaitrò của người giáo viên là vô cùng quan trọng Là người điều khiển, hướng dẫn đểhọc sinh khám phá vẻ đẹp của văn bản văn học. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra chogiáo viên là cần rèn luyện cho học sinh tự nhạy bén, linh hoạt và tư duy nhanh,phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn mà lâu nay các em chưa có điều kiệnkhám phá, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi đứng trước tập thể. Mặt khác,đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn, do đặc thù bộ môn, còn giúp học sinh cảmnhận một cách phong phú, đa chiều vẻ đẹp của thế giới hình tượng nghệ thuậtthông qua khả năng liên tưởng, tưởng tượng kỳ thú của học nữa, ở mỗi tác phẩm nghệ thuật, chúng ta khó có thể nhìn thấy đượchình dạng, nó không phải là vật thể mà là một chuỗi lời nói có khả năng khơi gợi ởngười đọc, người nghe những hình ảnh trong tâm tưởng. Văn thơ chỉ nghe đượcbằng tai và chỉ thấy được bằng tâm trí. Tác phẩm nghệ thuật không tự nó đến đượcvới học sinh mà phải tìm ra cách tác động vào tư duy văn học, trong đó liên tưởngvà tưởng tượng là những nhân tố cơ bản nhất để học sinh có khả năng nhạy bénnhận ra những sáng tạo hình tượng của tác phẩm trong quá trình tiếp vậy, đi tìm hiểu Vai trò liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn họclà cơ sở, là nền tảng để chúng ta đi sâu vào thế giới văn học đồng thời góp phầnnâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ học đề tài này, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài của nhómchúng tôi gồm 3 chươngChương 1 Khái quát về môn Văn trong nhà trường và việc tiếp nhận văn Khái quát về môn Văn trong nhà Tiếp nhận văn Khái Thực trạng hiện nay của việc tiếp nhận văn học trong nhàtrườngChương 2 Vai trò quyết định của liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn Liên tưởng, tưởng tượng – hoạt động tâm Liên Tưởng Mối quan hệ giữa liên tưởng, tưởng Liên tưởng, tưởng tượng trong sáng tạo nghệ Vai trò quyết định của liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận Liên tưởng, tưởng tượng giữ vai trò duy trì và điều chỉnh tínhtích cực thẩm mĩ của người tiếp Liên tưởng, tưởng tượng thể hiện được năng lực chủ quan củangười đọc trong việc tiếp nhận văn Liên tưởng, tưởng tượng là một hoạt động vô cùng cần thiết trongquá trình chiếm lĩnh chân giá trị của tác phẩm văn chươngChương 3 Một số giải pháp sư phạm nhằm khơi gợi, thúc đẩy hoạt động liêntưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn Xác lập tâm thế tiếp nhận văn chương cho học sinh bằng lời Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh trong tiếpnhận văn Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình dạy tác phẩmvăn Đa dạng các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinhCHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNGVÀ VIỆC TIẾP NHẬN VĂN quát về môn Ngữ văn trong nhà trườngTheo Đỗ Ngọc Thống “ Ngữ văn là cách gọi tên môn học hiệnhành của Việt Nam từ THCS đến THPT và Trung Quốc cả 3 cấp . Thật ra trênthế giới và cả Việt Nam, từ trước đến nay, tên môn học này khá phức tạp, có nhiềucách gọi khác nhau. Chúng tôi lấy tên Ngữ văn vì cho rằng nó có thể bao quátchung cho cả ngữ và văn; hơn nữa đây cũng chỉ là quy ước mang tính tương quan trọng là cấu trúc bên trong, nội hàm của thuật ngữ chứ không phải là têngọi. Trong thực tế từ trước đến nay, dù các văn bản chương trình có nhiều cách gọinhư Văn học, Ngữ văn hay Văn học và Tiếng Việt… thì nó vẫn thường được gọi làmôn văn. Và tên gọi cho dù thế nào thì cấu trúc nội dung của môn học này vẫn là 3phần tiếng Việt, văn học và làm văn. Trong đó Tiếng Việt là phần cung cấp nhữngkiến thức công cụ nền tảng để hình thành và phát triển năng lực học văn tiếp nhậnvăn bản và năng lực làm văn tạo lập văn bản.”Môn văn học trong nhà trường là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấnđề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học đượcthông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngônngữ. Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn xuôi vàthường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường cónghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tínhthẩm mỹ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểuhiện đời trưng của môn học Ngữ văn là môn học công cụ, mang tính nhân đặc trưng này thể hiện qua những mục tiêu cơ bản của nó và cách tiếp cậnnhững mục tiêu đó. Môn Ngữ Văn giúp học sinh phát triển các năng lực và phẩmchất tổng quát và đặc thù, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trườngphổ thông nói chung. Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lựchợp tác, năng lực tự học là những năng lực tổng quát, liên quan đến nhiều mônhọc. Năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ mà chủ yếu là cảm thụ vănhọc là những năng lực đặc thù, trong đó năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp vàtư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong học tập của HS và công việc của cácem trong tương lai, giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời với quátrình giúp học sinh phát triển các năng lực tổng quát và đặc thù, môn Ngữ văn cósứ mạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học. Môn Ngữ văn ở trườngphổ thông không được dạy học như một bộ môn khoa học nhằm trang bị cho họcsinh hệ thống các khái niệm khoa học. Tất cả các năng lực và phẩm chất trên đâyđều được phát triển thông qua các hoạt động dạy học, xoay quanh bốn lĩnh vựcgiao tiếp cơ bản đọc, viết, nói và nghe. Các kiến thức lí thuyết về tiếng Việt, lịchsử văn học, lí luận văn học và tập làm văn chủ yếu được dùng như là phương tiệntiến hành các hoạt động dạy học nhận văn Khái niệmQúa trình sáng tác- giao tiếp cảu văn chương có thể khái quát như sơ đồ sauNhà văn – Tác phẩm – Bạn đọcNhư vậy quá trình này có 3 giai đoạnGiai đoạn 1 là giai đoạn hình thành ý đồ sáng tác, giai đoạn 2 là giai đoạn sáng tác,giai đoạn 3 là giai đoan tiếp nhận của bạn đọc. Đây là giai đoạn văn bản tác phẩmthoát li khỏi nhà văn để tồn tại một cách độc lập trong xã hội, trong từng nhận văn chương là sử dụng thế giới tinh thần tư tưởng – tình cảm…trong văn chương. Thế giới tinh thần tình cảm – tư tưởng đó toát ra từ những hìnhtượng cụ thể do chất liệu ngôn ngữ xây dựng nên. Việc mua bán tác phẩm vănchương đương nhiên không phải là tiếp nhận văn chương. Nhưng đọc văn chươngđể tìm hiểu những cứ liệu lịch sử, địa lí, tâm lí, ngôn ngữ,… cũng không phải làtiếp nhận văn chương đích thực. Mặc dù cùng đọc những quyển sách được viết rabằng những con chữ, nhưng đọc văn không phải như đọc tác phẩm chính trị haytriết động tiếp nhận có vai trò quyết định đến sự tồn tại văn học. Tiếp nhậnvăn học là hoạt động đọc hoặc nghe để thưởng thức tác phẩm, chiếm lĩnh các giátrị văn học với mục đích giải trí, tìm hiểu nghiên cứu học tập hoặc bồi dưỡng nănglực sáng tác. Thông qua ngôn từ người đọc dùng trí tưởng tượng của mình, hiểubiết đối tượng được thể hiện, thưởng thức cái hay, cái đẹp và hiểu được tiếng nóicủa tác giả. Tiếp nhận văn học là hoạt động giao tiếp đặc biệt của tác phẩm vớingười đọc cùng thời hoặc sau thời, do đó có khoảng cách giữa tác phẩm với Thực trạng hiện nay của việc tiếp nhận văn học trong nhà trườngKhông giống với các bộ môn khác được giảng dạy trong nhà trường, mônvăn học có một đặc trưng rất riêng, nó đòi hỏi người học phải có một khả năng tưduy trừu tượng cao. Người học văn không phải là chỉ biết đến những sự kiện, hiệntượng được đề cập tới mà phải có những rung cảm thật sự trước một tác phẩm vănhọc, một sự kiện văn học. Và chỉ khi có được tình cảm đó mới thấy hết được cáihay, mới yêu thích môn văn hơn. Để làm được điều này đòi hỏi người học phải cókhả năng liên tưởng, tưởng tượng liên tưởng, tưởng tượng ở học sinh khá phong phú Nhiều họcsinh thể hiện được khả năng nhạy bén khi tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượnglàm tiền đề cho những liên tưởng, tưởng thực tế hiện nay, tuy hiện tượng liên tưởng, tưởng tượng phong phúnhưng khả năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ văn còn rất hạnchế. Hầu hết các em chỉ mới biết tái tạo lại tác phẩm tức là chỉ nói được những gìtrong tác phẩm đã có, còn khả năng cảm thụ văn học rất yếu. Các em không có khảnăng suy nghĩ độc lập nên gặp khó khăn khi phải trả lời các câu hỏi suy luận haycảm thụ văn học. Trước những vấn đề văn học cần phải bộc lộ quan điểm, các emthường dựa vào đánh giá của người khác trong sách vở hoặc ở bài giảng của thầycô giáo. Đối với các bài viết nếu không là sự bắt chước khuôn sáo thì nội dung rấtsơ sài, ngôn ngữ diễn đạt nghèo nàn, cách cảm và hiểu tác phẩm hết sức nông những liên tưởng, tưởng tượng nông cạn và sai lệch đáng lo ngại cụ thểlà học sinh thường kể lại tác phẩm, mô phỏng lời văn hoặc diễn xuôi các câu thơ,làm cho tác phẩm văn học trở nên đơn tưởng và tưởng tượng chưa được thực sự quan tâm đúng mức Nguyênnhân có thể do giáo viên có ít điều kiện quan tâm đến diễn biến hoạt động tiếpnhận của học sinh, hoặc do sự phân phối thười gian cho mỗi bài học chưa hợp lí;vẫn còn một bộ phận giáo viên thường chỉ chú ý phân tích ngôn từ cụ thể, các thủpháp nghệ thuật chưa chú ý đến những phương diện khác có thể kích thích hứngthú nhận thức sáng tạo của học 2 VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA LIÊN TƯỞNG, TƯỞNGTƯỞNG TRONG TIẾP NHẬN VĂN Liên tưởng, tưởng tượng – hoạt động tâm Liên tưởngNhờ sự vận hành của trí nhớ, con người có khả năng phản ánh, lưu giữ đượcnhững hình ảnh, sự kiện từng trải trong quá khứ. Trong vỏ não, mỗi lần có sự nhớlại thì lại xảy ra một quá trình liên tưởng. Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếutố tâm lí, nhờ đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong những điều kiện nhất địnhgây nên một yếu tố khác liên quan với Tưởng tượngTưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trongkinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sởnhững biểu tượng đã có. Khả năng lựa chọn và kết hợp các hình ảnh là cơ sở củatưởng tượng, khả năng kết hợp các khái niệm theo một cách mới là cơ sở của tưduy. Khi hoàn cảnh mang tính chất bất định lớn thì quá trình giải quyết nhiệm vụdiễn ra theo cơ chế tưởng Mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượngLiên tưởng có được nhờ cảm xúc và trí nhớ, còn tưởng tượng là kết quả củaquá trình cảm giác, quá trình tri giác – trong đó có giai đoạn huy động trí nhớ vàliên tưởng. Liên tưởng vừa là một hoạt động tâm lí độc lập, đồng thời cũng có thểxem nó là một giai đoạn, một thao tác trong quá trình tưởng tượng. Nhờ có liêntưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinhđộng; và ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém – những hình ảnh mà tưởngtượng tạo ra sẽ hạn chế và phiến Liên tưởng, tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuậtSáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo văn học nói riêng đều là nhữngphương thức phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua lăng kính chủ quan củangười nghệ sĩ. Được gợi từ đời sống, các tác giả thường phải trải qua quá trình cảmthụ, trau dồi vốn sống và lựa chọn dữ liệu, phương thức xây dựng tác phẩm – trongđó liên tưởng, tưởng tượng được xem như những quá trình tâm lí sáng tạo đặc thân sự liên tưởng hay huy động trí nhớ đã hàm nghĩa tính lựa chọnnghệ thuật, và sự giàu có liên tưởng chứng tỏ khả năng phong phú của thế giới nộitâm nhà văn.“ Làn thu thủy nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.”Với ngôn ngữ trong tác phẩm là vậy, lúc này với cái kinh nghiệm tư duy nghệ thuậthay là ý niệm về cái đẹp, người đọc bắt đầu liên tưởng đến một đôi mắt lomg lanh,trong như làn nước mùa thu làn thu thủy; đôi lông mày thanh tú như nét xuânsơn. Tác giả sử dụng thủ pháp ước lệ tượng trưng với chuẩn mực của thiên nhiênđể làm đối tượng so sánh. Vẻ đẹp của Kiều lộng lẫy đến mức khiến thiên nhiên, tạohóa phải đố kỵ, phải ghen ghét Hoa ghen, liễu hờn. Điều đó chứng tỏ nhan sắc củaKiều đã vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài quy luật của tự nhiên. Dựa vào đó ngườiđọc mới có thể tưởng tượng, hình dung ra Thúy Kiều đẹp như thế nào. Nếu khôngcó sự liên tưởng, tưởng tượng mà chỉ đơn thuần đọc suông những con chữ trên vănbản thì ta không thể nào hình dung được vẻ đẹp tuyệt trần của Thúy Liên tưởng, tưởng tượng thể hiện được năng lực chủ quan củangười đọc trong việc tiếp nhận văn họcLiên tưởng, tưởng tượng có một vai trò hết sức quan trọng đối với môn tưởng, tưởng tượng không những giúp người đọc xác định đúng những ấntượng trực cảm, chủ quan khi tiếp xúc với văn bản mà thông qua quá trình phântích sẽ giúp người đọc chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính để từđó người đọc đi vào chiều sâu, bề rộng của nhận thức, tạo cơ sở khách quan trongthao tác đánh giá toàn bộ giá trị tác phẩm. Phecdăngđơ Xuya, một học giả phươngTây nhận xét “ Trong cuộc sống tồn tại bao nhiêu thứ quan hệ thì trong đầu óc conngười có bấy nhiêu chuỗi liên tưởng”. Nói cách khác Liên tưởng là hiện tượngmang tính phổ biến, góp phần biểu thị các mối quan hệ đa dạng và phức tạp củađời sống. Nhờ có liên tưởng, cuộc sống con người trở nên phong phú và mang tínhxã hội. Liên tưởng có chức năng như là cầu nối tư tưởng giữa con người với conngười, giữa con người với thế giới xung quanh, giữa các chiều không gian với thờigian, giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô...Liên tưởng là hiện tưởng mang tínhphổ biến không chỉ phản ánh các quá trình tâm lý mà còn ảnh hưởng sâu rộng đếnnhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống con người. Những người có khả năng liêntưởng, tưởng tượng tốt bao giờ cũng là người có đời sống tâm hồn phong quá trình sáng tác, người nghệ sĩ nếu không có sự liên tưởng, tưởngtượng bên cạnh tài năng, vốn sống, sự hiểu biết...thì không xây dựng được thế giớinghệ thuật sống động trong tác phẩm. Còn người đọc thiếu sự liên tưởng, tưởngtượng thì văn phong sẽ nghèo nàn, khô khan, không còn hấp hạn như trong bài thơ “ Nhàn” của Nguyễn Bỉnh KhiêmMột mai, một cuốc, một cần câuThơ thẩn dầu ai vui thú nàoTa dại, ta tìm nơi vắng vẻ,Người khôn, người đến chốn lao ăn măng trúc, đông ăn giá,Xuân tắm hồ sen, hạ tắm đến cội cây, ta sẽ uốngNhìn xem phú quý tựa chiêm những câu thơ này, trong mắt người đọc hiện lên những hình ảnh của một lốisống an nhàn, thanh cao của nhà thơ. Ngoài ra nhịp điệu của câu thơ cũng gópphần làm cho người đọc cảm nhận được trạng thái ung dung của nhân vật trữ tìnhtrong cuộc sống hằng ngày. Hình ảnh con người hiện lên thật nhàn hạ, thảnh thơi,không bận chút cơ mưu tư dục. Lối sống ấy khiến người đọc liên tưởng tới phongthái thong dong của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn trong “Bài ca Côn Sơn”“Côn Sơn suối chảy rì rầmTa nghe như tiếng đàn cầm bên tai”Như vậy, không chỉ hình dung cuộc sống an nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm dựatrên những câu từ nhà thơ viết nên, người đọc còn có thể liên tưởng đến nhữnghình ảnh tương tự về một cuộc sống cũng ung dung thong thả như thế ở NguyễnTrãi. Qua đó cho thấy liên tưởng tưởng tượng thể hiện được năng lực chủ quan củacủa người đọc trong việc tiếp nhận văn Liên tưởng, tưởng tượng là hoạt động vô cùng cần thiết trong quá trìnhchiếm lĩnh chân giá trị của tác phẩm văn họcChúng ta nói văn học tác động đến người đọc một cách toàn diện, nghĩa làcả mặt lí trí và tình cảm. Đó là điều đương nhiên. Bởi lẽ mỗi tác phẩm văn họcđược viết ra, ngoài những nội dung thông tin nhằm mở rộng hiểu biết và nâng caonhận thức, còn chất chứa tấm lòng của người sáng tác. Phải thật sự có cái tình ấy,thì tác phẩm mới có thể đi sâu gợi tình và chính nó cũng là sợi dây liên cảm đánhthức dậy trong lòng người đọc những cảm xúc mãnh liệt. Ai có thể đọc mà khôngcảm phục một Hamlet, yêu mên một Giăng Van Giăng Những người khốn khổ,hay không cảm động trước mối tình Romeo và Juliet bi thương. Văn học đủ sứclàm rung lên cả những con tim tưởng như đã chai cứng, những tâm hồn ngỡ nhưcằn cỗi, già nua. Trước cuộc sống thực tại, ta có thể bình thản nhưng trước nhữngcuộc đời bi thương trong tác phẩm thì mấy ai có thể cầm lòng. Nói như vậy khôngcó nghĩa là tác phẩm văn học đã hư cấu một cách quá đà những gì thuộc về cuộcsống mà ngược lại những tác phẩm ấy đã dùng thứ ngôn ngữ hoàn chỉnh, lạ lùng đểcô đọng những ý nghĩ, những cảm xúc, những giọt máu và những giọt lệ đắng cay,nóng bỏng của thể gian này Giữa người đọc và người sáng tác, sợi dâynối liền chính là tác phẩm. Mối quan hệ này tưởng như đơn giản nhưng thực ra rấtquan trọng. Người đọc chỉ có thể hiểu được tâm trạng của tác giả và cảm thông vớinhững số phận của nhân vật khi tác phẩm đó mang đầy đủ giá trị nội dung, nghệthuật và quan trọng hơn là giá trị nhân bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có câu“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trời”Khách thể là một khung cảnh hiểm trở của núi rừng “khúc khuỷu”, “heo hút” nóilên khung cảnh hiểm trở của núi rừng và ta liên tưởng đến sự vất vả và gian lao củacuộc hành quân. Như vậy, khách thể không thể vẽ hết những tâm tình của ngườichiến sĩ mà chỉ có tâm hồn của con người mới diễn đạt được suy nghĩ và cảm xúcvà chính cái tâm hồn ấy là giá trị thực của con 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP SƯ PHẠM NHẰMTHÚC ĐẨY, KHƠI GỢI HOẠT ĐỘNG LIÊN TƯỞNG,TƯỞNG TƯỢNG TRONG TIẾP NHẬN VĂN Xác lập tâm thế tiếp nhận văn chương cho học sinh bằng lời dẫnCó nhiều cách tạo ra tâm thế sự tập trung của ý thức của học sinh để gópphần nâng cao khả năng tiếp nhận văn học. Với đặc thù của bộ môn, việc thể hiệnlời dẫn của giáo viên trong giờ dạy học tác phẩm văn chương có ý nghĩa dẫn của giáo viên khi vào bài có ý nghĩa tạo ra một tâm thế đặc trưngcho học sinh định hướng nhận thức. Đó chính là việc thiết lập một dòng liên tưởngcảm xúc hoặc mở ra một dự cảm khái quát cho những hình dung, tưởng tượngnghệ thuật của học sinh. Lời vào bài của giáo viên phải mở ra được tình huống haykhông khí mới lạ, kích thích hưng phấn và gây được sự chú ý đặc biệt cho học nội dung, lời vào bài cần ngắn gọn, xúc tích, nêu được vấn đề một cáchấn tượng, xác định rõ ràng đối tượng cho bài hình thức, tuỳ từng yêu cầu, đặc điểm bài học tác phẩm văn chương cóthể linh hoạt thực hiện bằng lời dẫn trực tiếp hoặc lời dẫn gián tiếp. Trong đó, lờidẫn trực tiếp là lời dẫn có tính chất định tính, định danh vấn dụ “Giá trị tiêu biểu của nội dung Truyện Kiều là cảm hứng nhân văn củaNguyễn Du trong việc thể hiện tiếng nói ca ngợi những giá trị phẩm chất đẹp đẽ,đồng tình với những khát vọng giải phóng và đồng cảm với số phận bi kịch củacon người; tiếng nói lên án những thế lực tàn bạo. Để tìm hiểu cụ thể một trongnhững nội dung tiêu biểu đó-sự đồng cảm với nỗi đau khổ của con người, chúng tacùng tìm hiểu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.”Còn lời dẫn gián tiếp là loại lời dẫn có tính chất phản đề hoặc nêu vấn đề đểtăng cường sự chú ý của học sinh vào đối dụ “Có ý kiến cho rằng, một trong những phương tiện mà đại thi hào dântộc Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Để tìmhiểu điều này, chúng ta cùng phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.”Nói đến tâm thế học văn cũng là nói đến những tình huống sư phạm đặc thùmà giáo viên thiết kế để khơi dậy trong học sinh hứng thú tiềm tàng và động cơhọc tập tích cực; khơi dậy khát khao giao cảm với thế giới nghệ thuật; khơi dậynhu cầu giao tiếp và đối thoại với nhà văn một cách tự nhiên, nhu cầu tự bộc lộ củabản thân và năng lực sáng tạo trong quá trình tiếp nhận. Tình huống đó không chỉdùng để mở đầu bài học mà nó cần được duy trì một cách thích hợp xuyên suốttoàn bộ quá trình tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, đánh giá tác phẩm văn Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh trong tiếp nhậnvăn họcLiên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh được phát huy trong từngbước chiếm lĩnh tác phẩm .Do tính đặc thù của môn học, đọc là một hoạt động không thể thiếu. Bởi đọcgắn liền với tiếp nhận. Đọc văn không chỉ là việc phát âm thông thường mà là quátrình “thức tỉnh cảm xúc”, quá trình tri giác ngôn ngữ nghệ thuật đồng thời với việcvận dụng kinh nghiệm, kỹ năng sống của bản thân người đọc để từ đó giải mã ngônngữ nghệ thuật. Để khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh, có thểyêu cầu học sinh đọc theo các mức độ- Đọc lướt để tạo ấn tượng chung về tác phẩm- Đọc tập trung vào “điểm sáng thẩm mỹ” để tạo nên sức biểu hiện nổi bật củabức tranh nghệ Đọc nhấn mạnh âm hưởng chủ đạo và giọng điệu của nhà văn nhằm tạo nên sựthống nhất về tư tưởng thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật của tác Đọc diễn cảm hoặc nhập vai, đọc theo vai để tô đậm giá trị nội dung tưtưởng và hình thức nghệ thuật của tác mức độ đọc trên có thể được thể hiện trong hai giai đoạn là đọc chuẩn bịở nhà và đọc trên lớp. Yêu cầu trước hết của việc đọc chuẩn bị là đọc tác phẩmkết hợp với đọc chú thích để hiểu được nghĩa công cụ nghĩa văn bản, chính là tạotiền đề để xác định lớp nghĩa văn cảnh nghĩa chức năng, nghĩa văn học của cơ sở của việc đọc chuẩn bị, giáo viên có thể tiến hành hướng dẫn họcsinh đọc ở lớp với sự tái hiện lại kiến thức mà học sinh đã tiếp nhận được trong khiđọc chuẩn bị. Xác định giọng điệu của nhà văn dựa trên dấu hiệu hình thức vànguyên tắc tổ chức hình tượng của tác phẩm, có thể căn cứ vào thể loại, phongcách tác giả… để tìm ra đặc điểm tiết tấu âm thanh, nhịp điệu của ngôn giờ học, đọc không chỉ xuất hiện với ý nghĩa khởi đầu mà thao tác đọccòn tham gia suốt quá trình phân tích, so sánh, khái quát và luyện tập. Vì thế,những liên tưởng, tưởng tượng trong giai đoạn đọc chuẩn bị vừa có ý nghĩa khởiđầu vừa xác định tâm thế cho những rung động thẩm mỹ ban đầu; liên tưởng vàtưởng tượng trong giai đoạn đọc để phân tích có vai trò kiểm chứng, minh họa; liêntưởng và tưởng tượng trong đọc để so sánh, khái quát có ý nghĩa tái hiện toàn vẹnbức tranh nghệ thuật của tác với quá trình đọc của học sinh, giáo viên có thể có những hình thứcgợi mở khác. Chẳng hạn, hình thức gợi mở bằng lời dẫn Ví dụ Với văn bản LặngLẽ SaPa của Nguyễn Thành Long, phải đọc theo yêu cầu thể hiện nổi bật tính cáchtừng nhân vật trong truyện Bác lái xe tuy già nhưng tính khí sôi nỗi; ông họa sĩtrầm lặng sâu lắng; cô gái hồn nhiên nhưng kín đáo; đặc biệt anh thanh niên yêunghề, bộc trực vô tư. Sau khi tổ chức đọc, xác định nhân vật chính, giáo viên có thểchuyển tiếp bằng lời dẫn Như vậy trong truyện ngắn này tuy không có sự đối lậpvề tuyến nhân vật, song lại có thể thấy rõ ranh giới và mối quan hệ giữa nhân vậtchính và các nhân vật khác. Đó cũng là một gợi ý, một căn cứ để khai thác giá trịtruyện. Nếu tìm hiểu truyện này theo gợi ý trên, theo em sẽ phân tích theo mấy ýchính, đó là những ý nào?.Phân tích tác phẩm là thao tác tiếp nhận mang tính chất lý tính, từng bướcminh giải cụ thể các yếu tố cảm tính và những yếu tố đã khái quát trong thao táctiếp cận. Việc lựa chọn vấn đề và cách thức phân tích phù hợp sẽ có ý nghĩa địnhhướng cho các thao tác tiếp nhận tiếp theo. Chọn “trúng” vấn đề và cách thức phântích phù hợp là cơ sở khách quan cho việc xác định phương hướng của liên tưởng,tưởng tượng nghệ thuật ở học tác cắt nghĩa trong giảng văn là làm sáng tỏ những vấn đề đã tiếp cậnvà phân tích. Cắt nghĩa thường gắn liền với lời giảng bình. Lời giảng bình của giáoviên vừa đảm bảo yêu cầu định hướng tiếp nhận, vừa định hình kiến thức thôngqua khả năng kết nối những khuynh hướng liên tưởng tích cực và có thể gạt bỏ cácliên tưởng tản mạn, liên tưởng không bản chất; đồng thời tập trung và mở rộngtưởng tượng sáng tạo, giúp học sinh khai thác đúng và sâu sắc những phương tiệnbản chất của tác phẩm văn dụ Trong quá trình phân tích mối quan hệ giữa lão Hạc với con chó LãoHạc-Nam Cao, giáo viên có thể định hướng bằng lời giảng bình “Từ khi con traiký giấy xin đi làm đồn điền cao su, lão Hạc vẫn hy vọng ngày con trở về sẽ cưới vợcho con; và theo lão, khi ấy lão mới giết thịt con chó. Nhưng trước tình cảnh khốnkhó, lão đã phải bán “cậu Vàng”. Việc đó cũng đồng nghĩa với việc lão Hạc đã tiêudiệt hy vọng cuối cùng và lặng lẽ chuẩn bị cho cái chết bế tắc của mình. Tuy nhiênvề nguyên nhân sâu xa, lão bán “cậu Vàng” còn một lý do khác, theo em đó là lýdo gì?”.Đánh giá là thao tác khái quát tác phẩm văn chương. Có thể đánh giá bằngnhận định hoặc nêu vấn đề tranh luận, so sánh mở rộng vấn đề, hướng tới nhu cầutự nhận thức của học sinh, nhằm hình thành kỹ năng “phân biệt”, kỹ năng “địnhhình” và khắc sâu kiến Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm vănchươngCâu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm mục đích gợi mở, vận dụng trí nhớ,lựa chọn và huy động tối đa kinh nghiệm cá nhân, hướng học sinh vào hiện thựctâm lý của tác phẩm bằng những câu trả lời kiến thức, xác lập mối quan hệ giữa tácphẩm với nội dung bài cầu của loại câu hỏi này là đặt học sinh trước nhu cầu tái hiện hìnhtượng tác phẩm làm căn cứ cho những kiến giải và cắt nghĩa nghệ thuật. Nhữngliên tưởng, tưởng tượng thể hiện qua việc trả lời các câu, trả lời các câu hỏi này sẽlà những sợi dây nối kết những chân trời kiến thức, sẽ là hình tượng tác phẩm đượctiếp nhận một cách trọn thống câu hỏi trong bài dạy học tác phẩm văn chương gồm nhiều dạng,trong đó câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng có thể là liên tưởng hiện thực xác địnhcủa tác phẩm trong quan hệ với hiện thực của đời sống xã hội; liên tưởng mối quanhệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, giữa không gian và thời gian nghệ thuật, giữa cácnhân vật với nhau và với hoàn cảnh điển hình; liên tưởng hình ảnh, hình tượng,biểu tượng của tác phẩm này với tác phẩm khác; tưởng tượng về khả năng pháttriển của hình tượng nghệ thuật; tưởng tượng tâm trạng của tác giả khi lựa chọnmột chi tiết hay một số hình ảnh tiêu biểu của tác phẩm; …Ví dụ hệ thống câu hỏi khi dạy học tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao nhưsau+ Đọc câu chuyện, chúng ta thấy tác giả xây dựng hình ảnh nhân vật lão Hạctrong mối quan hệ nào?+ Trong mối quan hệ đó, đâu là mối quan hệ có vai trò mở đầu câu chuyện?+ Tại sao lão Hạc lại phân vân, đắn đo trước việc bán một con chó?+ Đọc tác phẩm, em thấy lão Hạc quý con chó như thế nào?+ Theo em, tại sao lão Hạc lại quý con chó như vậy?+ Yêu quý “cậu Vàng” như vậy, tại sao lão vẫn phải bán nó? Tâm trạng củalão khi bán nó như thế nào?+ Hãy tưởng tượng lại cảnh tượng trên và theo em vì sao lão Hạc lại xúcđộng như vậy? Câu hỏi liên tưởng mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh+ Về nguyên nhân sâu xa, lão bán “cậu Vàng” vì lý do gì?+ Hình dung theo lời kể, em có nhận xét gì về người con trai lão Hạc?+ Theo em, tình cảm của lão Hạc đối với người con trai của mình như thếnào?+ Đọc tác phẩm, em thấy cái chết của lão Hạc được miêu tả ra sao?+ Theo em, tại sao lão Hạc lại chọn cái chết như vậy?+ Tuy vậy, về cách sống của lão Hạc trong tác phẩm vẫn còn có các ý nghĩkhác? Theo em, vì sao họ lại nghĩ như vậy? Câu hỏi tưởng tượng về khả năng pháttriển của hình tượng nghệ thuật trung tâm+ Qua cách nghĩ của ông giáo về lão Hạc, em có nhận xét gì về ông giáo?Câu hỏi liên tưởng mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau+ Em có nhận xét gì về nghệ thuật xây dựng truyện Lão Hạc của Nam Cao?Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng về điểm nhìn nghệ thuật của tác giả với hiệu quảnghệ thuật của tác phẩm+ Theo em, chủ đề của tác phẩm là gì? Câu hỏi liên tưởng hiện thực xácđịnh của tác phẩm trong quan hệ với hiện thực của đời sống xã hộiNhằm phát huy ưu điểm của các câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng, cần kếthợp thực hiện một chuỗi các công việc từ đọc đến dẫn dắt các vấn đề, gợi mở, yêucầu học sinh phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…, đặt biệt là không tách rời hệthống câu hỏi trong dạy học tác Đa dạng các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinhLuyện tập là thao tác sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá, cũng là biện pháp đểgiáo viên thu nhận tín hiệu phản hồi từ kết quả lĩnh hội của học sinh; đồng thời quađó khắc sâu kiến thức của học sinh theo định hướng của giáo nhiều hình thức và biện pháp thực hiện thao tác luyện tập như đọc diễncảm, đọc phân vai; tái hiện một tình huống then chốt trong tác phẩm hoặc toàn bộtác phẩm; hình dung dự đoán kết thúc tác phẩm; đặt lại tên tác phẩm; xây dựng lờithoại hay lời tâm sự với nhân vật; tập so sánh, khái quát…Ví dụ 1 Hãy thử tưởng tượng tâm trạng của tráng sĩ làng Gióng sau khiđánh tan giặc Ân rồi cùng ngựa bay lên dụ 2 Em hãy viết một bức thư chia sẻ tâm sự với nhà văn về cách xâydựng truyện Cô bé bán dụ 3 Hãy kể một tấm gương thiếu niên hy sinh dũng cảm mà em đã đượcnghe, được đọc? Sau khi đọc bài Lượm của Tố HữuVí dụ 4 Em hãy hình dung tâm trạng của cụ Bơmen khi vẽ chiếc lá trườngxuân trong đêm mưa gió.Chiếc lá cuối cùng của dụ 5 “Giả sử một ngày nào đó con trai lão Hạc trở về và đứng trước nấmmồ của lão, em thử hình dung và dự đoán-người con trai đó sẽ nghĩ gì và nói gì vớibố?”Ví dụ 6 Giả sử được gặp nhân vật Trương Sinh trong tác phẩm Chuyệnngười con gái Nam Xương Trích Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ khi chàngvừa lập đàn gọi vợ, em sẽ nói những điều gì?Ví dụ 7 Từ ba câu thơ cuối của bài thơ Đồng chí Chính Hữu, em hãy miêutả lại cảnh tượng dụ 8 Hãy tưởng tượng, em đã gặp tiểu đội xe không kính Trong “Bàithơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật trên tuyến đường Trường Sơnvà kể lại cuộc gặp gỡ dụ 9 Theo em, tại sao tác giả lại đặt tên tác phẩm là Lặng Lẽ SaPa ? Nếucó thể đặt lại tên cho truyện, em sẽ đặt như thế nào?Ví dụ 10 Nếu như được gặp bác Ba – bạn của anh Sáu “Chiếc lược ngà” –Nguyễn Quang Sáng, em sẽ hỏi thêm điều gì?KẾT LUẬNLiên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật là hoặt động tâm lí đặc thù của sáng tác,phê bình và tiếp nhận văn học. Nhà văn thông qua liên tưởng và tưởng tượng để táihiện và khái quát đời sống, sáng tạo hình tượng, sử dụng liên và tưởng tượng nhưnhững phương tiện nghệ thuật nhằm thực hiện nhu cầu bộc lộ tư tưởng, thái độ,tình cảm trong tác phẩm. Người đọc thông qua kinh nghiệm và năng lực cá nhân đẻtri giác ngôn ngữ nghệ thuật, bằng liên tưởng và tưởng tượng thẩm mĩ để tái tạonhận thức đời sống mà nhà văn thể hiện. Đối với người đọc, liên tưởng và tưởngtượng nghệ thuật được xem như những phương thức sáng tạo đặc thù nhằm chiếmlĩnh, tiếp cận giá trị, bản chất của hình tượng văn năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú của người sáng tác có ý nghĩaquyết định sự đa dạng và hấp dẫn, sức lây động và khả năng lấp lánh của hìnhtượng nghệ thuật trong tác phẩm, và khả năng liên tưởng , tưởng tượng sáng tạo ởngười đọc sẽ nhân lên cho hình tượng của tác phẩm những sức sống mãnh liệtthông qua sự gặp gỡ, đồng điệu và giao cảm tâm hồn. Như vậy, đối với cả hai lĩnhvực sáng tác và tiếp nhận, liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật đều hướng tướimục đích sáng tạo và nhận thức giá trị thẩm LIỆU THAM KHẢO1.“Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng pháttriển sau 2015” – Đỗ Ngọc Thống trên />2. />3. Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Quốc gia HàNội, PHÂN CÔNG CÔNG VIỆCSTT123456TÊNPHAN THỊ HAITRẦN THỊ THANH VIPHẠM THỊ NGỌC VYNGUYỄN THỊ PHƯƠNG YÊNBÙI NGUYÊN VỆ CẨMCÔNG VIÊCPHẦNTRĂM100%100%100%100%90%90%

cách thực hiện thủ thuật liên tưởng